Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

THÊM GIẬN CON TRỜI

Giăng 9-12 
Tiếp tục chức vụ của mình tại Jerusalem sau kỳ lễ Lều Tạm, Chúa Giê-xu trước tiên ban sự chữa lành về phương diện thuộc thể cho một người mù, rồi sau đó mở mắt thuộc linh cho người ấy. Điều này dẫn đến chỗ tranh luận với người Do Thái về vấn đề “người mù dẫn người mù” và tầm quan trọng của Người Chăn Bầy, người vừa dẫn dắt vừa bảo vệ chiên.
Phép lạ thứ bảy xảy ra tại Bê-tha-ni, nơi Chúa Giê-xu khiến La-xa-rơ sống lại từ kẻ chết. Dù cả làng Bê-tha-ny bị rúng động bởi sự kiện này và tin nhận Chúa, nhưng từ lúc đó Chúa Giê-xu đã trở nên đối tượng bị truy sát (11: 53). Mỗi bước của Ngài đang dần đến gần thập tự hơn.
Câu hỏi của các môn đồ ở đầu chương 9 thuộc loại cổ điển “biết rồi khổ lắm … hỏi mãi”. Còn câu trả lời của Chúa Giê-xu thì thuộc típ: “hỏi gì, đáp nấy”, mà cụ thể là “không phải tại con, cũng chẳng bởi tại cha”. Ý của Chúa Giê-xu là: ta đến không phải để giải đáp thắc mắc mà là để giải quyết bế tắc. Tại chỗ này, chúng ta có thể thấy rằng không phải lúc nào bệnh tật cũng là hậu quả của tội lỗi đâu nha.
Cũng tại đây, một lần nữa chúng ta có thể thấy được sự cứng cõi, vô tín của lòng người là dường nào. Người vốn bị mù bẩm sinh, nay được sáng đang sờ sờ ra đấy, mà chúng cứ gân cổ lên chối bay chối biến. Rõ đúng là “có mắt nhưng mù” (9: 39).
Biết bao nhiêu người ngày nay “có mắt nhưng mù” đang ở quanh ta đấy thôi. Vì mù nên họ không thể nhìn thấy những phép lạ Chúa làm sờ sờ ra đấy. Đã không thể thấy mà lúc nào mồm miệng cũng cũng kêu réo chí chóe, rằng Chúa có giỏi thì làm phép lạ thế này, thế kia đi rồi đây sẽ tin. Tội nghiệp thay những anh trai chị gái có mắt nhưng mù.
Trong chương 10, Chúa Giê-xu tiếp tục giới thiệu chính mình là một Người Chăn – Người Chăn nhân lành. Đối với người Do Thái thì hình ảnh Người Chăn nhắc nhớ họ về Đấng Mê-sia, về vị Vua mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ từ ngàn xưa. Nói cách khác, khi bảo: “Ta là người chăn nhân lành, …” (10: 11), Chúa Giê-xu đang muốn nói rằng, Ngài chính là Đấng đó.
Cũng trong chương 10, lúc Chúa bảo rằng Ngài là cửa của chiên, lúc lại là người chăn chiên (10: 7, 11). Không có gì nhầm lẫn đâu nhá.
Thời ấy, chuồng chiên (ngoài đồng) được quây lại bằng một vòng tường đá, với một cổng vào khá hẹp. Sau khi chiên đã vào hết bên trong thì người chăn sẽ nằm ngang cổng, tức là lấy thân mình làm cổng hay cửa của chuồng chiên! Và như thế là trong ra ngoài vô gì thì người chăn cũng biết. Vừa là người chăn, vừa là cổng chiên là rứa đó.
Thế cho nên, bất kỳ ai đến với chúng ta (chiên) mà không qua Giê-xu (cổng), tức là không nhìn nhận Ngài, không đầu phục Ngài, thì điều là trộm cả đấy. Cảnh giác nha bà con.
Cũng tại chương này, có một câu nói của Chúa Giê-xu đã khiến Ngài bị ném đá tới tấp luôn. Đó là câu “Ta với Cha là một” (10: 30). Chúa Giê-xu không nói câu này trong tiếng Việt hay tiếng Anh mà là trong tiếng Do Thái. Vì Chúa nói tiếng Do Thái với người Do Thái nên không thể có chuyện họ hiểu lầm, đúng không? Họ hiểu câu đó là ri nè: “ông là con người mà tự cho mình là Đức Chúa Trời” (10: 33).
Sờ sờ ra như thế, vậy mà có mấy ‘học dả’ Tân Chứng nhân Giê-hô-va mới đây còn đanh đá rằng, “nếu Giê-xu là Đức Chúa Trời thì tại sao Ngài không tuyên bố thẳng một lời cho xong”.
Thì tuyên bố rồi đấy thôi. Và người Do Thái cũng đã lên án rằng Giê-xu lộng ngôn, phạm thượng đó thôi. Rõ rành rành ra như thế mà sao mấy ‘học dả’ kia lại không thấy nhỉ. Thì ra, mấy ảnh cũng rơi vào cảnh có mắt nhưng … mù.
Vì mù nên đối với những người này thì tất cả đều bị … đui hết, chỉ có những gì mấy ảnh thấy mới là … chân lý, mới là mặc khải, mới là nâm-bờ hoanh. Vì mù nên trong khi người khác tưng bừng tin nhận Chúa sau sự kiện La-xa-rơ sống lại thì những người người này lại chạy đến với những lãnh đạo tôn giáo để hiệp tác loại bỏ Chúa.
Trong chương 12, thì câu chuyện Chúa được xức dầu rất đáng được lưu tâm. Mary, người làng Bê-tha-ni là một phụ nữ mà mỗi Cơ-đốc nhân nên noi gương. Cô được đề cập đến 3 lần khác nhau trong các sách Phúc Âm, và lần nào được mô tả cô cũng đều ngồi dưới chân Chúa Giê-xu cả (Luca 10: 39; Giăng 11: 32; 12: 3).
Trong vị thế đó, Mary thờ phượng Chúa, nhận lãnh sự dạy dỗ của Chúa và kinh nghiệm sự yên ủi của Ngài giữa lúc đau buồn.
Hẳn nhiên, bạn và tôi không thể ngồi vào vị trí của Mary theo nghĩa đen hoàn toàn, nhưng thái độ của cô ấy thì ta hoàn toàn có thể ‘copy’. Đó là vị thế đầu phục và lệ thuộc.
Mary cũng đã tình nguyện dâng hiến điều quý giá nhất mà mình có trong hành động tôn kính dành cho Chúa Giê-xu. Lọ nước hoa quý ấy có giá khoảng chừng 1 năm tiền công, tức là vào khoảng 10-12 nghìn ringgit Malaysia. Đó có thể là của hồi môn dành cho ngày cưới của cô ấy. Và cô đã làm gì? – Đổ cả lên chân Chúa trong hành động dâng hiến của tình yêu.
Có thể bạn tự hỏi: Điều gì tôi có thể dâng cho Giê-xu như là một hành động thờ phượng? Điều quý nhất mà bạn đang sở hữu là … chính con người của bạn. Và nếu bạn chưa từng làm như thế trước đây thì hãy đọc Rô-ma 12: 1, rồi sau đó hãy làm theo như thế: dâng chính mình cho Chúa như một sinh tế sống ngay hôm nay. Đó là một hành động thờ phượng mà Chúa không bao giờ từ chối.


Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

SẴN SÀNG PHÚC ĐÁP

Dừng Chân Lần Thứ 39 
NHÌN LẠI
Khác với các sách Phúc Âm Cộng Quan (Mathiơ, Mác, Luca), Phúc Âm Giăng nên được gọi là Phúc Âm bổ sung, vì cớ 93% những tường thuật trong sách này không thể tìm được ở một sách Phúc Âm nào khác. Những nhân vật nổi tiếng như người phụ nữ bên giếng nước, giáo sư Nicodem, người bạn thân của Chúa Giê-xu là La-xa-rơ chỉ có thể được tìm thấy trong sách Giăng mà thôi.
Với tính chính xác của một người viết sử cẩn trọng, Luca đã cung cấp những tư liệu về thời gian và đời sống của Chúa Giê-xu nhằm mục đích: “theo thứ tự mà viết cho ông để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn.”  (Luca 1: 3-4). Trong khi đó, Giăng tập chú vào những phép lạ mà Chúa Giê-xu đã làm (bảy phép lạ chỉ trong 12 chương đầu) “để anh em tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, và để khi anh em tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (20: 30-31).
Có rất nhiều câu Kinh Thánh mà chúng ta đã đọc trong tuần qua nên được học thuộc lòng. Vậy cớ chi ta lại không giấu một ít Lời Chúa vào lòng trong tuần này nhỉ? Hãy bắt đầu với một trong những câu sau đây đi nha: Luca 16: 13; 18: 16; 19: 10; 20: 25; Giăng 1: 12, 14; 3: 16, 36; 5: 24; 8: 32.
Anh chị em còn nhớ Thánh Thi 119: 11 nói gì không?
NHÌN LÊN
Có tiếng gõ cửa nhà bạn. Đã khuya rồi, hiếm khi có khách vào giờ này. Nhưng hóa ra khách là một nhân sự hầu việc Chúa hoặc một người lãnh đạo một hội thánh mới ghê chớ. Sau vài phút chào hỏi xã giao, câu chuyện bổng chuyển hướng khi người ấy hỏi bạn: “Làm thế nào để tôi có thể biết được mình là một Cơ-đốc nhân?”
Bạn có bị sốc không? – Sao không. Nặng nữa là khác!
Tất nhiên, đấy chỉ là chuyện giả tưởng rứa thôi. Không biết ở trời Âu, đất Mỹ có chuyện nớ hay không chớ ở ta thì … chắc là không đâu hì?
Thế nhưng, trong Kinh Thánh thì một câu chuyện thật như rứa đã xảy ra. Nhân vật chính là Nicodem. Một chuyên gia kinh luật, một lãnh đạo của dân Do Thái. Học thật, bằng thật đàng hoàng nha. Đụng đến đâu, Kinh Thánh tuôn ra ào ạt đến đó luôn. Vậy mà, khi Chúa Giê-xu đề cập đến kinh nghiệm tái sinh hay sinh lại từ bên trên thì anh í bổng dưng … ngây ngô, ú ớ thấy thương luôn.
Có ai trong số khách Bộ Hành hôm nay chợt nhận ra mình đang thuộc nhóm Cơ-đốc nhân … “đầu môi, chót lưỡi” hông ta? – Dám lắm à.
Mà “đầu môi, chót lưỡi” là răng? – Là chỉ biết Chúa cách lý thuyết dzậy thôi. Nghe người ta nói sao, mình cứ máy móc lập lại như một con vẹt rứa đó.
Nếu có ai đó cắc cớ hỏi bạn: “ê, du có chắc chắn là tội mình được tha hoàn toàn chưa dzậy?” hay “du đã được cứu chưa?” thì điều gì sẽ xảy ra: bạn sẽ ‘đứng hình’ hay … có hình?
Hoặc nếu có ai đó thỏ thẻ: “Du đã được tái sanh chưa?” thì có khi nào bạn hỏi ngược lại người ấy: “tái sanh là răng?” không?
Tuy nhiên, Nicodem có điều này khá: không hề giấu dốt. Không biết cứ bảo không biết. Thương bác í là ở chỗ đấy. Và cũng nhờ bác í không “tốt khoe, xấu che” nên đời sau như ta đây mới được nghe câu Kinh Thánh tuyệt dzời là Giăng 3: 16 “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”
Đấy, không biết thì cứ hỏi. Hỏi thì sẽ được trả lời. Không chỉ cho riêng mình mà còn cho bao người khác nữa cùng hưởng đấy thôi.
NHÌN TỚI
Nếu bạn thật lòng tin cậy nơi Đức Giê-xu là Đấng Gánh Tội thay mình, thì giống như bác Nicodem, bạn sẽ kinh nghiệm được sự tái sinh (về phương diện tâm linh). Sự sống đời đời là món quà của Đức Chúa Trời dành cho tất cả những ai nhận biết nhu cầu cứu rỗi của chính mình và chạy đến cùng Đức Giê-xu để tin nhận Ngài làm Cứu Chúa cho riêng mình.
Bạn đã nghe biết về Tin Lành rồi đúng không?
Thế thì, giờ là lúc bạn cần phải chia sẻ Tin Lành đó cho những người khác ở xung quanh. Vì cánh đồng truyền giáo của bạn là người chưa được cứu tiếp theo mà bạn sẽ gặp.
Khá nhớ rằng, chỉ có hai loại người mà bạn và tôi được gặp gỡ mỗi ngày mà thôi: những người đã có Chúa Giê-xu và những người đang cần Chúa Giê-xu.
Hãy bắt đầu câu chuyện với câu hỏi thăm dò đại loại như ri: “anh/chị/bạn quê ở đâu?” (hay làm nghề gì? …).
Dựa theo câu trả lời của người ấy (… Nghệ An chẳng hạn) ta tiến tới: “Nghệ An cũng có hai loại Nghệ An nha. Một là những người quê Nghệ An đã có Chúa Giê-xu và một là những người quê Nghệ An đang cần Chúa Giê-xu. Dzậy anh/chị/bạn thuộc loại nào?”
Nếu người ấy thuộc nhóm “đang cần Chúa Giê-xu” thì răng? – Mần tới luôn chớ răng. Giới thiệu về Chúa Giê-xu cho người ấy. Biết đâu chừng, qua người ấy mà cả làng, cả xã, cả thành phố trở lại tin thờ Chúa như đã từng xảy ra với người phụ nữ Samari năm xưa thì sao.
Đừng nghĩ là mọi người xung quanh (Tây, Tàu, … ta) chưa sẵn sàng để tiếp nhận Chúa Giê-xu nhé. Hãy nghe Chúa bảo nè:
“Hãy ngước mắt lên và xem những cánh đồng đã vàng sẵn sàng cho mùa gặt. Người gặt nhận tiền công và thu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng. Ở chỗ nầy, câu nói: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt,’ là rất đúng. Ta đã sai các con gặt những gì mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các con thì vào chia sẻ công khó của họ.”  (Giăng 4: 35-38)
Mùa gặt thì không bao giờ thiếu. Mùa gặt thì lúc nào cũng luôn vàng sẵn ra đấy. Chỉ thiếu mỗi thợ gặt. Chúa bảo rứa đấy.
Tin hay không tùy bạn.


Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

PHỤC VỤ THA NHÂN

Giăng 6-8 
Những tường thuật của Giăng về đời sống và chức vụ của Chúa Giê-xu trong phần Kinh Thánh hôm nay có liên hệ đến những ngày lễ trọng của người Do Thái. Sự kiện hóa bánh cung cấp cho 5 nghìn người và bài diễn thuyết của Chúa Giê-xu về bánh sự sống diễn ra vào dịp lễ Vượt qua (6: 4). Còn những bài giảng trong chương 7 và 8 được thực hiện trong thời gian Chúa Giê-xu về Jerusalem dự lễ Lều Tạm (7: 2, 10). Dù đang là kỳ lễ hội, nhưng trong cả hai trường hợp, những người lãnh đạo Do Thái thay vì vui mừng hớn hở, thì lại luôn hừng hừng lửa giận, sẵn sàng cho … banh xác Giê-xu luôn (8: 59). Đúng là giận quá hóa … ngu!
Có rất rất nhiều điều để học qua phần Kinh Thánh hôm nay.
Trước hết là từ câu chuyện Chúa hóa bánh cho 5000 người ăn … phủ phê. ‘Chiện’ này quen quá rồi, đúng không? Thế nhưng nếu chịu khó thì cũng còn lắm điều hay để nhấm nháp đấy.
Chẳng hạn, trước nhu cầu của quần chúng nhân dân, anh Philip nhà ta chỉ nhìn thấy những gì mà thầy trò anh í KHÔNG CÓ, còn anh Anh-rê thì lại nhìn thấy được những gì họ HIỆN CÓ. Nghịch lý ở đây là những gì KHÔNG CÓ thì ta lại ‘có khả năng’ NHÌN THẤY cách dễ dàng, trong khi những gì hiện ĐANG CÓ thì mình lại khó thấy hoặc thậm chí là KHÔNG THẤY!
Thế thì, khi đối diện với những nhu cầu, những thách thức trong cuộc sống, đừng tập chú nơi những gì bạn không có, mà hãy khám phá xem những gì mình hiện đang có bạn nhé. Những gì bạn đang có – có thể là rất ít ỏi, bé nhỏ “chẳng thấm vào đâu” như 5 ổ bánh và 2 con cá – nhưng một khi chúng được trao vào tay Chúa với lời cầu nguyện cảm tạ thì … chuyện lớn sẽ xảy ra đấy.
Từ rày về sau, mỗi khi gặp câu hỏi: “Tìm đâu ra?” thì câu trả lời của bạn phải luôn là “Tìm chi xa!” Cứ thế nhé. Chúa không để bạn phải chiến đấu một mình đâu.
Liên quan đến chuyện … “được ăn bánh” này thì còn một số … vụn vặt khác cũng đáng được góp nhặt. Đầu tiên, là chuyện gom bánh thừa (6: 12-13) dạy ta bài học tiết kiệm, không phung phí. Thoạt nghe rất phi lý, nhưng đại đa số người Việt ta – không miễn trừ tôi con Chúa – là những người phung phí có hạng trong chuyện ăn uống đấy nhé. Tiếp theo là chuyện: thời nào cũng có người theo Chúa … vì bánh, tức là theo Chúa chỉ để được phước hạnh vật chất mà thôi. Thế thì, đừng lấy làm lạ tình trạng ni trong Hội Thánh nha pà kon. Điều chúng ta cần quan tâm là kiểm tra cách công tâm xem chính mình có thuộc vào thành phần đó không nhé.
Bài học thứ hai liên quan đến chuyện nhiều người quyết định … nghỉ chơi với Chúa Giê-xu. Không chỉ có quần chúng nhân dân hay thành phần … ‘cảm tình Chúa’ đâu nha, mà ngay cả nhiều môn đồ cũng bái bai với Chúa luôn đóa (6: 66).
Những người này bỏ Chúa không phải vì Chúa từ chối ước muốn của họ là “tôn Ngài lên làm vua” (6: 15); Họ bỏ Chúa cũng không phải vì Chúa không đáp ứng đòi hỏi “được bánh ăn luôn luôn” (6: 34). Họ bỏ Chúa vì không thể chấp nhận những gì Chúa giảng dạy hay công bố (6: 60; 8: 13, 57).
Hãy đặt mình vào vị thế của những người Do Thái, đặc biệt là những người đồng hương của Chúa Giê-xu thời bấy giờ – những người biết Chúa từ lúc còn bé đến lúc đó – thì ta sẽ hiểu được phần nào phản ứng của họ khi nghe những lời dạy của Ngài về bánh hằng sống (6: 35-58), hay bài diễn thuyết về sự sáng của thế gian (8: 12-58).
Trong 2 bài thuyết giảng này, Chúa Giê-xu đã có đến 5 lần xưng mình là Giê-hô-va (6: 35, 48; 8: 12, 24, 28). Danh xưng Giê-hô-va hay Gia-wê lần đầu được chính Đức Chúa Trời tỏ ra cho Môi-se trong Xuất Hành 3: 14 với nghĩa là “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” hoặc “Ta là Đấng Ta Là” hay gọn hơn nữa là “TA LÀ” (trong tiếng Anh thì rõ hơn: “I AM”). Người Do Thái không dám gọi danh Gia-wê nên mỗi khi đọc Kinh Thánh đến chỗ có danh này thì họ liền xuống giọng đến mức thì thầm hoặc thay thế bằng … nickname: A-đô-nai, nghĩa là: “Đấng đó” (8: 24, 28 – Bản Dịch Cũ).
Ấy thế mà, Giê-xu người Nazaret này thì chẳng kiêng cử gì ráo trọi. Khi thì TA LÀ “bánh sự sống” (6: 35, 48), lúc thì ây-êm (I AM) “sự sáng của thế gian” (8: 12), lúc khác thì huỵch toẹt luôn: “ta là Đấng Hằng Hữu” hay “ta là Đấng đó” theo Bản Dịch Cũ (8: 24, 28)!
Phát ngôn như thế mà không điên thì cũng là bị quỷ ám. Nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay, và trong cái nhìn của thành phần lãnh đạo cùng đại bộ phận quần chúng nhân dân Do Thái thời bấy giờ thì Giê-xu này đúng là … không bình thường; ‘chéc chén’ lòa ‘hén’ đang bị bệnh tâm thần phân liệt hay hoang tưởng tôn giáo rồi. Bởi vì không ai tỉnh táo mà lại đi tuyên bố cách lộng ngôn, phạm thượng như thế cả (7: 20; 8: 48, 52)!
Không chỉ có phát ngôn lung tung mình là ông này, ông nọ mà ‘hén’ còn bảo người ta phải “ăn thịt, uống máu” của ‘hén’ thì mới có được “sự sống đời đời” nữa cơ (6: 51-57). Đúng là … điên nặng rồi. Làm răng mà có thể chấp nhận được; làm răng mà có thể đi theo cho được.
Gọn một lời, họ rút lui vì không hiểu nỗi những gì Chúa Giê-xu đã giảng! Thế nhưng, họ lại không chịu kiểm tra những gì Chúa Giê-xu đã làm. Nếu chỉ căn cứ vào những gì Giê-xu nói mà thôi, thì cũng có thể kết luận rằng Giê-xu bị điên. Nhưng người điên thì không thể làm phép lạ, và người bị quỷ nhập thì làm sao có thể thông làu Kinh Thánh, đúng không?
Ngày nay, cũng có không ít người bỏ nhóm hay quyết định nghỉ chơi với Chúa vì “không chấp nhận được” một lẽ thật nào đấy – dâng hiến, chẳng hạn. Và không ít những người hầu việc Chúa vì sợ người ta bỏ nhóm nên không dám thẳng thắn giảng dạy Lời của lẽ thật.
Có khi nào bạn rơi vào một trong hai trường hợp nêu trên không đấy?
Bài học cuối cùng liên quan đến cách xử lý của Chúa Giê-xu đối với sự nghi kỵ và chế giễu trong gia đình của Ngài. Nếu bạn là người duy nhất trong gia đình tin Chúa và đang gặp khó khăn từ phía gia đình trong việc phát triển đời sống tâm linh thì bài học này là dành cho bạn.
Ngoại trừ mẹ Mary, người biết rõ nhân thân thật của Ngài, còn lại các em của Chúa thì không một ai tin rằng Ngài là Đấng Mê-sia, tức Chúa Cứu Thế cả. Không những không tin mà chúng còn chế giễu những tuyên bố cũng như chức vụ của Ngài nữa.
Chúa Giê-xu đã xử lý như thế nào? – Trước hết, Chúa không để tâm đến sự giễu cợt của các em mình. Đừng phản ứng lại với sự chế nhạo hoặc bằng sự nóng giận hoặc bằng sự phản bác. Đó là phản ứng mà những kẻ nhạo báng muốn nhìn thấy. Vì kiểu đó chỉ tổ “thêm dầu vào lửa” … đối kháng mà thôi.
Tiếp theo, Chúa Giê-xu yên lặng phục vụ Đức Chúa Trời cách kiên định. Đừng sợ bị đe dọa bởi những thành viên chưa tin Chúa trong gia đình. Hãy cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mình khả năng để trung tín với Chúa trong việc sống đời nhân chứng cách mạnh mẽ trước mặt họ. Khá nhớ rằng, bạn có thể là “cuốn Kinh Thánh” duy nhất mà những người thân chưa được cứu của bạn có thể đọc đấy.
Bạn đã sẵn sàng chưa?


Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

TRỜI NGƯỜI DIỆN KIẾN

Giăng 3-5
Ba chương Kinh Thánh hôm nay tập chú vào ba cuộc chộ mặt đặc biệt của Chúa Giê-xu với ba nhân vật ít nhiều có ... ‘số má’. Đó là thầy cả Ni-cô-đem, cô ả Samari và anh trai 38 năm chả … biết đi. Tuy là những cuộc gặp gỡ cá nhân, nhưng mỗi một trường hợp đều đem lại những tác động rộng lớn lên những người khác.
Việc tiếp cận của Chúa Giê-xu với người phụ nữ Samari đã dẫn đến cuộc truyền giáo cho cả thị trấn Si-kha (ch. 4). Sự chữa lành cho người bại nơi hồ Bê-tết-đa (ch. 5) đã kích hoạt cơn giận chết người của những người Do Thái dành cho Chúa Giê-xu. Còn cuộc gặp với vị khách không mời Ni-cô-đem vào tối hôm ấy đã cung ứng cho nhân loại một sờ-ta-tút bất hủ, một sờ-ta-tút thật sự đổi đời đối với tất cả những ai tin: Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy sẽ không bị hư mất mà được sự sống đời đời. (3: 16)
Chúng ta học được điều gì từ nơi Chúa Giê-xu về công tác chứng đạo, qua những cuộc gặp gỡ cá nhân nầy trong phần Kinh Thánh hôm nay?
Trước hết, đó là cách Chúa nắm quyền chủ động, dẫn dắt câu chuyện để đem đối tượng đến chỗ nhận biết Ngài là Đấng Mê-sia, tức Đấng Cứu Thế, bất kể đối tượng là người có lòng quan tâm (Ni-cô-đem), là người có nhu cầu (viên chức chính quyền, người bại) hay một người chẳng quan tâm và còn bị xem là thành phần cặn bả của xã hội (người phụ nữ Samari). Đấy là điều cốt lõi mà người đi chứng đạo hay rao giảng Phúc Âm phải ghi nhớ. Gì thì gì cũng phải giải bày cho người ta biết được Chúa Giê-xu là ai; Kiểu gì thì cũng phải đem người ta đến chỗ “mặt đối mặt” với chính Chúa để họ có cơ hội tin Ngài.
Tiếp theo, đó là cách Chúa trả lời những câu hỏi thắc mắc của người ta. Khi đi ra chứng đạo, ta cần phải chấp nhận một thực tế là có thể sẽ bị chống đối và bị chất vấn đấy. Hỏi để biết như thầy cả Ni-cô-đem thì ít, nhưng hỏi để vặn vẹo, để bắt bẻ, để cãi lẽ thì luôn có khối người. Ngay cả, một phụ nữ ‘tèm lem’ như thím Sa mà còn có lắm câu hỏi nữa là. Do đó, cần phải lận lưng ít vốn liếng để luôn sẵn sàng để trả lời những kẻ chất vấn về niềm hi vọng trong anh em, nhưng phải ôn tồn và trân trọng (1 Phê-rơ 3: 15).
Đầu tiên là dạng câu hỏi nhắm vào sự khác biệt giữa người với ta: Sao ông là một người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho uống nước?” (Vì người Do Thái vốn không giao tiếp với người Sa-ma-ri) (4: 9). Phiên bản ngày nay có thể là “bên anh/chị có tin rằng Đức Mẹ đồng trinh không?” hay “Tại sao người đi đạo không được phép lấy người bên lương?”, hoặc “Tại sao những người thờ Chúa lại không cũng giỗ tổ tiên?”, vv … vv …
Đây là loại câu hỏi nhằm khoét sâu mâu thuẫn giữa hai bên. Người hỏi phần lớn là chỉ muốn hỏi, muốn cãi, chớ không thật lòng muốn biết đâu. Đối với dạng câu hỏi này, Chúa Giê-xu không trả lời trực tiếp. Nhớ đấy.
Khi gặp loại câu hỏi này, ta có thể chọn cách trả lời ri nì: Đây đúng là một câu hỏi hay, nhưng trước khi trả lời anh/chị, tôi xin phép được trình bày về “quà tặng của Đức Chúa Trời”(hay điều chi đại loại thế),… Bảo đảm là sau đó người ấy sẽ quên luôn những gì mình đã hỏi cho mà xem.
Đối với dạng câu hỏi: “Ai lớn/cao hơn ai?” hay “Ai trước ai sau?” nhằm so sánh tổ tiên (hoặc Đức Phật) với Đức Chúa (4: 12), thì câu trả lời không phải là “hỏi gì, đáp nấy” đâu nha.
Ta không nên phủ nhận những giá trị hay những điểm tích cực của truyền thống hoặc từ những di sản của tổ tiên. Tuy nhiên, ta cần phải chỉ ra được những hạn chế hoặc sự bế tắc của những điều đó (truyền thống, di sản của tổ tiên) trước nhu cầu thực tiễn của cuộc sống: Đó là ai “uống” nước ấy vẫn còn khát mãi (4: 13). Rồi từ đó, chỉ ra cho người ta giải pháp trọn vẹn, bảo đảm hết “khát” vĩnh viễn: Đó là “uống” nước mà Chúa Giê-xu sẽ ban cho (4: 14)
Đối với dạng câu hỏi: “Ai đúng ai sai?” trong vấn đề niềm tin hay cung cách thờ phượng (4: 20) thì không thể tránh né, mà phải trả lời cách dứt khoát, rõ ràng. Các ngươi thờ phượng Đấng các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng Đấng chúng ta biết, vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái. Giờ sắp đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha bằng tâm linh và chân lý; ấy là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm. Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý  (4: 22-24)
Cuối cùng, trong công tác chứng đạo ta cần phải chấp nhận một thực tế khác nữa: ấy là sẽ có một số người … thà chết chớ không chịu tin Chúa Giê-xu! Đối với hạng người này thì dù có trực tiếp nghe tôi tớ Chúa cỡ Giăng Báp-tít rao giảng, tận mắt chứng kiến những dấu kỳ phép lạ Chúa làm hay tự mình nghiên cứu Kinh Thánh đi nữa, họ cũng không muốn đến với Chúa để được sự sống đời đời đâu (5: 31-40).
Tuy nhiên, đừng vì chuyện này mà vội … nản lòng chiến sĩ nha pà kon. Ấy là vì số người sẵn lòng tin Chúa thì bao giờ cũng … đông hơn quân Nguyên! Chỉ cần ta chịu khó “nhướng mắt lên” là sẽ thấy ngay “đồng lúa đã chín vàng, sẵn cho mùa gặt” rồi.
Nghe này: Chúa sai bạn và tôi “đến gặt ở chỗ mình không gieo” nhưng phải gieo thì mới có gặt. Có thể, ta gieo nơi này nhưng gặt được ở nơi khác. Song phải có gieo thì mới có gặt. Đó là nguyên tắc. Bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu còn có người vâng lời Chúa đi ra loan báo Tin Mừng cứu rỗi của Chúa Giê-xu thì nơi đó sẽ còn có những con người sẵn lòng tin nhận Chúa. Họ có thể là thành phần trí thức, là lãnh đạo tôn giáo, là cán bộ chính quyền, là người đau ốm bệnh tật, là thành phần tệ nạn xã hội hay những kẻ bị đời ruồng bỏ khinh chê.
Vâng, tất cả. Không loại bỏ ai hết. Bất kỳ ai cũng có thể nhận lấy sự sống đời đời, bất kỳ ai cũng có thể vào được nước Thiên Đàng, nếu người ấy bằng lòng tin nhận Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của riêng mình. Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy sẽ không bị hư mất mà được sự sống đời đời. (3: 16).
Bây giờ hãy thay thế họ và tên đầy đủ của bạn vào hai từ “thế gian” và “ai” ở câu Kinh Thánh trên, rồi đọc lớn tiếng lên xem nào … (Vì Đức Chúa Trời yêu thương …………… đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ …………… TIN Con ấy sẽ không bị hư mất mà được sự sống đời đời”).
Bạn có biết rằng Đức Chúa Trời yêu bạn lắm không? Và bạn đã nhận được món quà sự sống đời đời từ nơi Chúa chưa?
“Bóng đang nằm trong chân” của bạn đấy.


Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

CON TRỜI HIỂN LỘ

Giăng 1-2 
Hôm nay chúng ta bắt đầu đọc đến Phúc Âm Giăng, một quyển sách dành cho mọi đối tượng, mọi trình độ. Một cách hình ảnh là ri: Một đứa bé con lội cũng được, mà một con voi bơi cũng vừa. Nông, sâu đều ô-kơ cả.
Trong phần mở đầu tác phẩm của mình, Giăng đã giới thiệu một góc nhìn khác về đời sống và chức vụ của Chúa Giê-xu so với 3 tác giả trước đó là Mathiơ, Mác và Luca.
Phúc Âm Giăng bắt đầu với sự tiền hiện hữu (vốn có từ trước) và thần tánh của Lời (nguyên văn là Logos), Đấng đã thành người để bày tỏ Đức Chúa Trời cho nhân loại và để làm thành lời hứa của Thiên Chúa đối với dân Israel về một Đấng Mê-sia, tức Đấng Cứu Thế.
Logos trở thành người hay Lời nhập thể đã được xác nhận bởi Giăng Báp-tít, người được Thiên Chúa chọn làm người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Và sau đó các môn đệ đầu tiên của Người đã lần lượt xác nhận chân lý này.
Trong Phúc Âm Mathiơ, Đức Chúa Giê-xu được giới thiệu là một vị Vua; Trong Mác, Ngài là một Đầy Tớ; Trong Luca, Chúa Giê-xu là một Con Người (Son of Man), thì trong Phúc Âm Giăng, Chúa Giê-xu được giới thiệu là Con Đức Chúa Trời (Son of God).
Đối với người Do Thái, khi gọi ai đó là “con của … một ai đấy/một điều gì đấy” (chẳng hạn, con trai của sấm sét hay con trai của sự an ủi) thì có nghĩa là người ấy đồng nhất với người kia, với điều kia. Do đó, đối với người Do Thái cụm từ “Con Đức Chúa Trời” có nghĩa rằng “người này là Đức Chúa Trời”. (Đây chính là nguyên nhân mà Chúa Giê-xu về sau bị ném đá tơi bời khói lửa đấy).
Không chỉ ngày xưa, mà tận đến ngày nay vẫn còn có nhiều người, tuy vẫn tin thờ Chúa, nhưng vẫn cứ quyết liệt không chấp nhận Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời.
Ngày xưa, người Do Thái khó chấp nhận Giê-xu là Đức Chúa Trời, vì đối với họ, Người cũng chỉ là một con người bằng xương, bằng thịt, ăn uống đi lại giữa họ, có cha có mẹ là láng giềng của họ. (Đó là chưa kể đến việc, từ bé họ được dạy rằng “chỉ có duy nhất một Đức Chúa Trời mà thôi”). Còn ngày nay, những người theo tà giáo Chứng Nhân Giê-hô-va và nhóm “Tân Chứng Nhân” mới nổi lên ở Việt Nam khoảng chừng hơn năm nay, không chấp nhận Giê-xu là Đức Chúa Trời là vì … cách giải nghĩa câu chữ Kinh Thánh.
Số là, trong các bản dịch Kinh Thánh thì Giăng 1: 1 đều là ri: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời”  hoặc sát với nguyên văn nhất như bản Nhuận Chánh là ri: “Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng Đức Chúa Trời, và Đạo là Đức Chúa Trời”. Còn trong nguyên văn tiếng Hy lạp là ri:
Ἐν  ἀρχῇ  ἦν  ὁ  Λόγος,  καὶ  ὁ  Λόγος  ἦν  πρὸς  τὸν  Θεόν,  καὶ  Θεὸς  ἦν  ὁ  Λόγος.
Thế nhưng, trong tiếng Hy Lạp thì từ θεό (theo) mà không có mạo từ xác định đi cùng, có nghĩa chung là thần, nên dịch là thần cũng được mà dịch là Đức Chúa Trời cũng được. Và vì trong các bản Kinh Thánh cổ thì các từ θεό này thường không viết hoa cho nên những dịch giả “chứng Nhân” xưa cũng như nay đã chọn dịch chữ θεό  thứ 2 là “thần”. Thành ra, phiên bản của mấy ảnh tương tự như ri: “Ban đầu có Lời, Lời ở với Đức Chúa Trời và Lời là một vị thần”.
Mâu thuẩn nằm ở chỗ là cũng một từ θεό không có mạo từ xác định đi cùng như thế nhưng trong các câu 6, 12-13, 18 của cùng chương 1 này, thì mấy ảnh lại chọn dịch là “Đức Chúa Trời” mới đau chớ. Đó là chưa kể đến những chỗ khác trong Kinh Thánh – như Mathiơ 5: 9; 6: 24; Luca 1: 35; Rô-ma 1: 7, 17 – mấy ảnh cũng vô tư dịch là Đức Chúa Trời hết ráo. Thế là, chơi không đẹp, tiền hậu bất nhất rồi đúng không.
Logos hay Lời là Đức Chúa Trời và Lời này đã thành người với tên gọi là Giê-xu. Kinh Thánh ‘phán’ sờ sờ ra như thế mà cứ vặn với vẹo làm gì. Còn nếu cứ bám lấy nghĩa là “thần” đi, thì thử hỏi thần nào mà “muôn vật đều do Ngài tạo dựng, không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài”? Đó chẳng phải là Đấng Tạo hóa sao? Mà Đấng tạo hóa là ai? – Đức Chúa Trời chớ ai (Sáng Thế Ký 1: 1).
Vòng vèo cho lắm vào rồi cũng trở lại vạch xuất phát thôi. He he. Hay nói như Trịnh là “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Quay đầu là bờ nha cưng.
Trong phần Kinh Thánh hôm nay có thuật lại phép lạ Chúa Giê-xu hóa nước thành rượu trong tiệc cưới ở Cana. Giăng gọi đây là phép lạ đầu tiên trong số 7 phép lạ mà Chúa thực hiện được ghi chép lại. Giăng chỉ chọn 7 việc điển hình để ký thuật lại chớ không phải Chúa Giê-xu chỉ làm có 7 phép lạ à nha.
“Đức Chúa Jêsus còn làm nhiều dấu lạ khác trước mặt các môn đồ mà không ghi chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy được ghi chép để anh em tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, và để khi anh em tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (20: 30-31)
Mục đích rất rõ ràng, đúng không. Những phép lạ này (trong số đó có phép lạ hóa nước thành rượu) được ghi chép lại để làm gì? – “Để anh em tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời”. Nếu tin rằng, “Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” thì răng? – “được sự sống”. Còn nếu không tin rứa thì răng? – Thì được … sự chết chớ răng.
Trong phép lạ “nước thành rượu” này, có một nguyên tắc liên quan đến sự trả lời của Đức Chúa Trời đối với lời cầu xin của chúng ta. Đó là, Chúa đáp lời cầu xin của chúng ta theo thời điểm của Ngài chớ không phải của chúng ta; sự đáp lời của Chúa thường xảy ra sau khi chúng ta làm theo sự hướng dẫn cụ thể của Ngài; và sự đáp lời của Chúa luôn vượt trỗi hơn mọi mong đợi của chúng ta.
Năm xưa, các môn đệ đầu tiên sau khi đến gặp Chúa Giê-xu đều trở về rủ người thân của mình, bạn bè của mình “hãy đến xem!” (1: 35-51), và tất cả đều đã được Chúa bắt phục. Sao ngày nay, bạn không thể nói như thế đối với những người thân thiết của mình?