Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

MỤC SƯ: ĐỐI NHÂN XỬ THẾ

1Timothe 4-6
Trong ba chương Kinh Thánh hôm nay, Phao-lô tiếp tục ‘mách nước’ cho ông trẻ Timothe cách giữ mình và giữ … người trong hội thánh với tư cách là một người lãnh đạo. Đây là những nguyên tắc đối nhân xử thế mẫu mực không chỉ dành cho những người lãnh đạo trẻ trong các hội thánh mà là còn cho tất cả chúng ta, bất kể mình đang ở địa vị nào đi nữa.
Trước hết, Phao-lô cảnh báo về tình trạng bội đạo, tức chối bỏ đức tin, là tình trạng sẽ xảy ra vào thời kỳ cuối cùng.
Trước hết cần lưu ý rằng bội đạo không phải là một với tà giáo đâu nha. Người theo tà giáo về căn bản thì vẫn tiếp nhận và biết Đức Chúa Giê-xu nhưng lại tin theo một số giáo lý sai lệch. Còn người bội đạo thì chưa bao giờ là người tin Chúa thật sự, dù họ có cho rằng họ là Cơ-đốc nhân đi nữa. Người bội đạo chính là hình ảnh “cỏ lùng” mà Chúa Giê-xu đã từng đề cập đến trong Phúc Âm Mathiơ 13 đấy.
Người bội đạo thì phải nhổ bỏ ngay à? – Không, cứ để chúng đấy. Việc cần làm là “chú trọng đến việc đọc Kinh Thánh trong các buổi nhóm, việc khuyên bảo và dạy dỗ”. Lời Chúa phải là nâm-bờ oanh, chớ không phải là ý kiến, quan điểm, sự khôn ngoan hay hiểu biết của bất kỳ ai – kể cả của các cụ cao niên trong hội thánh (4:7).
Hãy xây dựng cuộc đời của chính mình và của những người khác mà Chúa giao cho bạn coi sóc bằng chính Lời của Chúa.
Nhiều người trẻ trong chúng ta đã biết “giấu Lời Chúa trong lòng để không phạm tội cùng Chúa” (Thi 119:11), song bao nhiều người trong chúng ta đã biết được cách nào để không bị người khác coi thường, xem là trẻ ranh không?
Đây là đáp án: “Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy làm gương cho các tín hữu bằng lời nói, cách xử thế, tình yêu thương, đức tin và nếp sống trong sạch” (4:12). Một đời sống gương mẫu trong lời nói, trong việc làm, trong tình yêu, trong sự trung tín và trong sự thánh sạch sẽ khiến những kẻ lắm lời phải … tắt đài, những kẻ cao ngạo phải cúi đầu trước bạn đấy. Mỗi ngày, hãy cậy ơn Chúa mà đạt đến chuẩn này nha cưng.
Chương 5, được dành để dạy về cách đối đãi với những người lớn tuổi, những người thật sự không nơi nương tựa và những lãnh đạo trong hội thánh. Hội thánh phải có trách nhiệm giúp đỡ hoặc chu cấp đầy đủ cho họ (đối với người lãnh đạo thuộc linh) về phương diện tài chánh. Hội thánh phải có trách nhiệm bảo vệ uy tín cho những người lãnh đạo trước những lời vu khống, tố cáo không đủ nhân chứng. Tuy nhiên, nếu người lãnh đạo “sống trong tội lỗi”, tức thật sự sai phạm thì phải đem ra “khiển trách công khai” chớ không nên ém nhẹm theo kiểu ‘xử lý nội bộ’ (5:3, 17-20).
Nhiều anh trai chị gái và thậm chí còn có cả một “vài cha, vài anh” đã là người hầu việc Chúa nhưng vẫn còn quyến luyến, chưa dứt được men cồn thì khi đọc đến lời khuyên của Phao-lô dành cho Timothe: “Đừng chỉ uống nước luôn; nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở” (5:23) là mừng còn hơn bắt được vàng. He he
Đây nhé, rõ ràng ràng đấy nhé, được phép uống rồi nhá. Mục sư (Timothe) mà còn được phép uống rượu cơ mà. Uống vì sức khỏe thì không vấn đề. Nào, nâng ly. Chúc sức khỏe. Cốp. Cốp. Thế là tới bến luôn.
Đây là chỗ duy nhất trong Kinh Thánh khuyên người hầu việc Chúa nên “dùng tí rượu”. Lý do: ông mục sư í có vấn đề về đường tiêu hóa hay về vấn đề sức khỏe gì đấy. Nói chung là rượu trong trường hợp này có giá trị như là thuốc, theo kiểu “món ăn bài thuốc”.
Thế thì “rượu thuốc” là ô-kê hả Thầy? - Ừ ô-kê, nếu ngươi cũng đang bị bệnh giống như ông mục sư í. Còn nếu không bị bệnh hoặc không muốn bị bệnh thì chớ nha cưng.
Thật ra, câu Kinh Thánh này cũng thuộc dạng đang bị tranh chấp, tức là người ta còn cãi nhau chí chóe, không ai chịu ai đấy. Nếu biết căn nhà đó, hay mảnh đất đó đang bị tranh chấp thì có ai dại gì đặt tiền vào đấy để mua không? Chuyện “dùng tí rượu” (5:23) là đất bị tranh chấp đấy, ngươi còn muốn uống không?
Cuối cùng, chương 6 dành để dạy về thái độ của người tín hữu là nô lệ đối với ông chủ của mình, kể cả người đấy là Cơ-đốc nhân hay không phải là Cơ-đốc nhân. Ngày nay, không còn chế độ nô lệ, không còn cảnh chủ tớ, nhưng … chủ công ty, chủ quán và người làm công thì vẫn còn.
Người tín đồ làm công được dạy phải tôn trọng chủ của mình trong mọi sự để danh Chúa và Đạo Chúa không bị xúc phạm. Thế thì, khi ta không tôn trọng người chủ của mình trên đất thì ta đã cho người ngoại cơ hội để xúc phạm Chúa và coi thường những gì chúng ta tin rồi đấy.
Ngày nay, ở ta cũng đã có rất nhiều con dân Chúa là chủ của các công ty, xí nghiệp. Nếu là công nhân đang làm việc tại những nơi đó thì bạn phải xử sự ra sao í à? – “Đừng lấy cớ là anh em mà thiếu tôn trọng họ, nhưng càng phải phục vụ tận tâm hơn, vì người được phục vụ đó là tín hữu và anh em yêu dấu” (6:2). Đừng để cho người chủ Cơ-đốc của chúng ta sau một thời gian nhận toàn con cái Chúa trong hội thánh vào làm việc đã phải bức xúc mà thốt lên rằng, “từ nay tôi cạch tới già, tôi chẳng thèm nhận … người nhà (Chúa) nữa đâu” đấy nha.
Sự dạy dỗ của Phao-lô trong chương cuối cùng này còn một phần liên quan đến thái độ của con dân Chúa – cả người giàu lẫn kẻ nghèo – đối với tiền bạc. Thế nhưng, những gì bác í đã viết là rõ mồn một rồi, chẳng còn gì để bình nữa đâu.
Không phải tiền bạc là cội rễ của điều ác, mà LÒNG THAM tiền bạc mới là cội rễ của MỌI ĐIỀU ÁC. Tín đồ giàu hay tín đồ nghèo thì cũng phải canh giữ lòng mình trước “thằng Tham” này hết á. Giàu hay nghèo gì thì cũng không nên “đặt hi vọng vào của cải không chắc chắn, nhưng hãy đặt hi vọng nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật một cách dư dật để chúng ta vui hưởng” (6:17)
Chỉ vậy thôi!


Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

PHẨM CÁCH NGƯỜI HẦU VIỆC CHÚA

1 Timothe 1-3 
Thơ Timothe thứ nhất là một trong ba Thơ tín Mục vụ, được Phao-lô viết cho Timothe, người lãnh đạo hội thánh Chúa tại Epheso, cũng là con thật của ông trong đức tin (1:2).
Là một người hầu việc Chúa còn rất trẻ, đâu chừng trên dưới 30 tuổi, Timothe phải đối diện với đủ thứ áp lực, căng thẳng, chống phá cùng những thách thức trong vai trò của một người chăn bầy. Và để giúp cho học trò của mình không … nản lòng chiến sĩ, không … nghỉ chơi, Phao-lô phải nhỏ to ‘mách nước’ thôi.
Trước hết là hiểm họa tà giáo. Kinh Thánh không cho biết tà giáo ở Epheso lúc đó tên gì, song điều ta biết là chúng đã truyền “dạy một giáo lý khác”, tập trung vào những chuyện huyền bí thuộc thần linh thế giới hay … lý lịch căn bản, con dòng cháu giống “chẳng ích gì cho chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời mà chúng ta biết được nhờ đức tin” (1:4)
Đối với mấy ông thầy tà mê tranh cãi, thích đi giảng dạo này thì Phao-lô bảo chỉ có một giải pháp duy nhất là lịnh cho chúng phải câm mồm. Đơn giản rứa thôi.
Động từ “răn bảo” hay “truyền bảo” ở các câu 3 và 5, trong nguyên văn Hy-lạp là một động từ rất mạnh được dùng trong quân đội. Nó có nghĩa là ra một mệnh lệnh nghiêm khắc từ cấp chỉ huy. Hay nôm na là người chủ quát một tiếng để buộc con chó đang sủa phải … tắt đài. Chấm hết.
“Giáo lý khác” ở Epheso này sao nghe quen quen như “Tin Lành khác” hay “Phúc Âm khác” ở Galati quá hén (Galati 1:6-9). Cũng chỉ có một chuyện là tập trung xuyên tạc Tin Lành của Đấng Christ mà thôi.
Mà Tin Lành của Đấng Christ là gì? - Ấy là người ta được cứu hay nhận được sự sống đời đời, không đi vào hỏa ngục CHỈ BỞI tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu mà thôi. Nói cách khác, Tin Lành của Chúa Giê-xu là Tin Lành của tình yêu, của ân sủng chớ không phải Tin Lành của công đức.
Chúa Giê-xu cứu người ta như thế nào í à? – Cứ nhìn thẳng vào Phao-lô đây nầy thì sẽ rõ ngay thôi. Ác như ta, xấc láo như ta, quậy có số má như ta mà Chúa vẫn … ô-kơ, mà Chúa vẫn tiếp nhận, rồi Chúa còn tin dùng, Chúa còn đại dụng để “làm gương cho những ai sẽ tin Ngài để được sự sống đời đời” nữa cơ mà. Đấy Tin Lành của tình yêu là như thế. Tất cả chỉ bởi lòng tin – lòng tin chân thành nơi sự chết đền tội thay ta của Chúa Cứu Thế Giê-xu (1:12-17).
Xưa cũng như nay, thời nào cũng có những người rất giỏi, học cao biết rộng, nhưng không hiểu tại sao đang yên đang lành thì đùng một phát: bị … “đậu phộng đường”, lạc khỏi chánh đạo, rồi “sa vào những cuộc tranh luận rỗng tuếch”.
Phao-lô khuyên Timothe và quý ông ở Epheso đừng để bị cuốn vào những cuộc tranh cãi vô bổ như thế. Thay vào đó, hãy dành thì giờ để cầu nguyện và rao báo Phúc Âm cho người khác, mà đặc biệt là cho những người lãnh đạo chính quyền, để họ được cứu. Đó mới đích thực là công việc có ích và đẹp lòng Đức Chúa Trời (2:1-8).
Còn mấy bà thì răng? – Thì mấy bà “cũng vậy” chớ răng (2:9). Thay vì tham gia tranh cãi thì các bà nên tham gia vào việc cầu thay; thay vì tập chú vào việc chưng diện mỗi khi đến nơi nhóm họp, thờ phượng Chúa thì các bà nên dành thì giờ để tham gia công tác phục vụ trong hội thánh. Người nữ tin kính Chúa là rứa đó (2:9-10).
Không biết tại làm sao mà mấy bà mấy cô ở hội thánh Epheso bị bác Pôl … chèn ép dữ quá. Bằng chứng là ở nơi khác, bác í không hề ngăn cản chị em làm lãnh đạo hay phát biểu trong hội thánh cơ mà (1Corinhto 11:5; Công vụ 18:28; Tit 2:3-4). Nguyên nhân chắc là có dính dáng đến sự dạy dỗ của mấy ông thầy tà kia đấy. Bằng chứng là chuyện Eva bị dính quả lừa đã được nhắc lại. Thế thì, việc mấy bà bị tước quyền ăn nói và quyền lãnh đạo trong các buổi nhóm họp của hội thánh chỉ là chuyện nội bộ, chuyện riêng tại Epheso thời đó chớ không phải là nguyên tắc chung. Do đó, các bà các cô thời nay cứ yên tâm mà phát biểu, mà lãnh đạo nhé.
Ngay cả tại Epheso thì … “lịnh cấm” này vẫn có thể được xem xét hủy bỏ nếu các bà sinh con, “miễn là tiếp tục giữ vững đức tin, sống yêu thương, thánh thiện và đoan trang” (2:15).
Từ “được cứu” trong câu này rõ ràng không mang nghĩa là “được cứu khỏi tội lỗi”, tức là được hưởng sự sống đời đời. Bởi lẽ, những người nữ được nói đến ở đây là những người đã tin Chúa rồi. Hơn nữa, nếu nhờ “sinh con” mới được cứu thì mấy cô chưa chồng, mấy bà không con trong hội thánh sẽ tập trung trước Ngai Thiên Chúa để “khiếu kiện đông người” à nha.
Từ được cứu (trong nguyên văn Hy-lạp là SOZO) là một từ đa nghĩa: Nào là được giải thoát, giải phóng, được chữa lành, được xóa án, được phục hồi, … Vì có dính dáng đến chuyện sinh đẻ nên một số người cho rằng, cụm từ “được cứu” trong câu 15 có ý nói là mấy bà sẽ được phục hồi sức lực sau khi sinh hay thậm chí là mấy bà sẽ không bị … đau đẻ vì được thoát khỏi lời nguyền của Chúa đối với Eva (Sáng 3:16)!
Nếu như thế thì tại sao còn phải “miễn là tiếp tục giữ vững đức tin, sống yêu thương, thánh thiện và đoan trang”? Mà chuyện “không phải đau đẻ” hay “đẻ xong vẫn khỏe” thì chẳng có liên quan gì đến chuyện các bà các cô bị tước quyền ăn nói và quyền lãnh đạo trong hội thánh cả, đúng không?
Sau khi sưu tra, tìm kiếm, học hỏi … kính thưa các thể loại trường phái giải kinh mà chẳng tìm được câu trả lời nào khả dĩ, MSB tui tạm hiểu như ri: Có lẽ, “người nữ” được đề cập ở đây có liên quan đến những người nữ góa chồng – một thành phần đặc trưng trong hội thánh Epheso hay sao í (5:6, 9-15). Chính mấy cô góa chồng mà còn trẻ này mới là đối tượng phải nghiêm chỉnh thi hành “cấm lệnh” của Phao-lô. Còn nếu cô nào tiếp tục đi bước nữa “lấy chồng, sinh con, quản trị gia đình mình, không tạo cơ hội cho kẻ thù bêu xấu”, tức là “tiếp tục giữ vững đức tin, sống yêu thương, thánh thiện và đoan trang” thì sẽ được xóa án, sẽ được phục hồi (SOZO) quyền ăn nói, quyền lãnh đạo trong các sinh hoạt của hội thánh.
Tạm hiểu như thế nhá, còn chính xác thế nào thì phải chờ về trễn gặp bác Pôl thôi, vì câu 15 này là thuộc dạng … “khó của khó” trong Kinh Thánh đấy nha bà con. He he
Cuối cùng, là những đòi hỏi đối với những người lãnh đạo trong hội thánh. Phao-lô dành cả chương 3 để hướng dẫn Timothe cách chọn những người lãnh đạo thuộc linh. Ngoại trừ một tiêu chuẩn duy nhất là khả năng dạy dỗ (3:2), thì tất cả những đòi hỏi còn lại đối với người lãnh đạo trong hội thánh – cả giám mục, tức là mục sư và chấp sự - đều liên quan đến đức hạnh hay phẩm hạnh.
Không chỗ trách được, thanh liêm và có tiếng tốt vừa là đòi hỏi, vừa là đích để phấn đấu trau dồi đối với những ai đã “ước ao một điều tốt đẹp” – ước ao trở nên một người lãnh đạo trong nhà Chúa, tức là trong hội thánh của Đức Chúa Trời.
Bạn có mong được làm một người như thế không?


Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015

ĐANG ĐỢI ĐỪNG … ĐỨNG!

2Tesalonica 1-3 
Đợi là mong đợi giờ Chúa Giê-xu tái lâm, còn đứng là đứng … hình, là xì-tốp, là không làm gì hết ráo khi đang … đợi. Mong đợi Chúa tái lâm là việc tốt, nhưng đợi mà bỏ hết mọi việc, không mần ăn gì sất thì là … trật lất rồi.
Có một bộ phận không nhỏ tín hữu tại Tesalonica đã chờ đợi Chúa tái lâm kiểu nớ. Chính vì thế nên Phao-lô phải cấp tốc … xuống tay ‘quất’ tiếp lá thơ này.
Cớ sự là do một số giáo sư giả, hổng biết ai xui khiến và tài trợ, đi giảng dạo khắp nơi rằng thì là “ngày của Chúa” đã đến rồi. Thế là, bà con tín hữu hè nhau bỏ buôn bỏ bán, bỏ việc đồng án, cùng nhau tụ tập bàn tán, khiến cho bác Pôl nghe tin xong cũng … choáng.
Ây-da, con ui là con, nỏ phải rứa mô, nỏ phải rứa mô. Chắc cú là Chúa trở lại rùi nà. Nhưng sẽ có nhiều chuyện xảy ra trước rùi mới đến chuyện nớ.
Đầu tiên là sự bội đạo, nhẹ thì phôi pha tình yêu đối với Chúa, còn nặng là chối bỏ đức tin nơi Chúa. Sự bội đạo này sẽ diễn ra trên diện rộng, khắp thế giới. Có thể người ta bỏ Chúa vì bị bắt bớ, bách hại; cũng có thể người ta bỏ Chúa vì … quá thất vọng về Chúa, khi chứng kiến điều ác dường như đang thắng thế, kẻ thủ ác lộng hành như giữa chốn không người. Trường hợp đầu có thể xảy ra tại các quốc gia độc tài, thù ghét Đạo Chúa, còn trường hợp sau thì có vẻ như đang diễn ra tại các nước tự do Âu Mỹ.
Tiếp liền theo sự bội đạo là có một tay cực kỳ độc ác hay nói theo kiểu Nam bộ là … ác bà cố, hiện thân của sự hủy diệt sẽ xuất hiện. “Kẻ ấy sẽ chống nghịch và tự tôn nó lên trên tất cả những gì được người ta cho là thần thánh hoặc đối tượng để tôn thờ, thậm chí nó còn vào ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, và tự xưng là Đức Chúa Trời!” (2:3-4).
Biết tay Đại Ác này là ai rồi hén – Antichrist hay Kẻ Chống Nghịch Đấng Christ đấy.
Nói cách nôm na là sẽ có một thời điểm mà tất tần tật mọi sự gian ác, hiểm độc trong khắp thế gian sẽ hội tụ cả vào trong một con người cụ thể, bằng xương bằng thịt hẳn hòi – Đấy là Người Tội Ác hay Đại Ác. Kẻ ấy được ban cho quyền thế (lãnh đạo một quốc gia, hay một liên minh) và quyền năng siêu nhiên, trực tiếp từ Sa-tan để thi hành đủ loại phép thuật. Khả năng “lừa gạt” hay tuyên truyền của tay này là hơi bị cao, nên số người tin theo hắn cũng sẽ … đông như quân Nguyên đấy (2:9-12).
Tay ấy xuất hiện chưa í à? – Chắc chắn là rồi, từ thời bác Pôl cơ mà (2:7). “Quyền lực bí mật của tội ác” này đã chẳng hành động qua biết bao nhiêu tay độc tài khát máu tại nhiều quốc gia trong lịch sử nhân loại từ xưa đến nay đến thôi. Tuy nhiên, hắn chưa xuất đầu lộ diện cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn công khai ở phạm vi toàn cầu.
Lý do? – Chưa đúng giờ của hắn. Hắn vẫn còn đang bị canh giữ hay nôm na là vẫn còn đang bị nhốt chớ chưa được thả ra (2:6-7)
Đọc đến đây rồi nhìn ra xung quanh với tin tức khủng bố liên tục khắp trời Âu, đất Á thì chắc chắn chúng ta đã nhận thấy là … gần lắm rồi, đúng hôn? Tỉnh thức đi bà con.
Chuyện bà con bỏ làm bỏ ăn chờ Chúa tái lâm không chỉ có ở Tesalonica, mà đã từng xảy ra khắp mọi nơi. Hồi năm 1943, mục sư Trần Như Tuân, không biết tính toán kiểu gì đã tuyên bố rằng Chúa Giê-xu sẽ tái lâm vào 1/10/1945. Báo hại hầu hết bà con tín đồ tại Vinh và Thanh Hóa bán nhà bán cửa theo ông chờ Chúa tái lâm. Không ít tôi tớ Chúa cũng bị ‘dính chưởng’ này khi phong trào lan khắp miền Trung và miền Nam gây không ít tai hại cho hội thánh Chúa vào thời ấy.
Đối với những người nghe theo tin đồn nhảm, bỏ công ăn việc làm tại Tesalonica thì Phao-lô cảnh cáo rất chi là mạnh mẽ: “Trở lại làm việc ngay. Còn không muốn làm í à? – Xì-tốp ít (stop eat) luôn đi!”
Không chỉ cung cấp cho người Tesalonica thêm thông tin chi tiết liên quan đến sự tái lâm của Chúa Giê-xu, và cảnh cáo cách nghiêm khắc những tay lợi dụng việc này để bỏ bê lao động sản xuất, trong thư này, sứ đồ Phao-lô còn đưa ra một thông tin nóng hổi khác nhằm an ủi bà con cô bác đang trong cơn bị bách hại, bắt bớ vì cớ niềm tin nơi Chúa. Bác í bảo là ngày đến sẽ có 3 sự báo ứng hay báo đáp được thực thi.
Trước tiên là người tin Chúa sẽ được dán “tem chất chượng” cao, theo tiêu chuẩn Vương quốc Thiên Đàng cho những khổ nạn mà họ đã và đang trải qua (1:4-5). Tiếp đến là phần báo ứng dành cho thành phần vô tín, những người không chỉ từ bỏ cơ hội tiếp nhận Chúa mà còn chống đối, bách hại con dân Chúa. Phần của chúng là đời đời hư mất, vĩnh viễn bị loại ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời (1:6-9). Và cuối cùng là sự ‘báo đáp’ dành cho chính Chúa “khi Ngài đến trong Ngày ấy, để được tôn vinh giữa các thánh đồ và được chiêm ngưỡng bởi tất cả những người tin, trong đó có anh em, vì anh em đã tin lời chứng của chúng tôi trước mặt anh em” (1:10)
Mỗi ngày bạn có cầu nguyện cho ít nhất là một người nào khác không? Trừ ra lúc cầu nguyện cảm tạ vào các bữa ăn, bạn có còn thường xuyên cầu nguyện vào một lúc nào khác trong ngày không? Có ai đó (ít nhất là một người) cùng cầu nguyện với bạn, cùng chia vui sẻ buồn với bạn trong sự cầu thay không?
Đã là một sứ đồ nhưng Phao-lô luôn khẩn nài tín hữu ở Tesalonica cầu nguyện cho mình và những thành viên trong đoàn của ông, tức là cho cả Sin-vanh và Timothe (3:1). Bác í cũng từng nhờ người khác cầu nguyện cho mình trong thơ 1Tesalonica (5:25), trong thơ Colose (4:3-4) và trong thơ Epheso (6:18-20). Phao-lô nhận biết rất rõ nhu cầu của chính mình cần được cầu thay, hỗ trợ để thực thi chức phận Chúa giao phó. Và hàng loạt những “chiến sĩ cầu thay” cho Phao-lô trong khắp cả đế quốc La Mã thời bấy giờ đã được Chúa dấy lên.
Anh chị em có thường xuyên cầu nguyện cho người bạn đời của mình? cho bố mẹ? cho con cái? cho đồng nghiệp? cho mục sư và ban lãnh đạo hội thánh của mình không? Họ rất cần sự cầu thay của anh chị em như sứ đồ Phao-lô cần được sự cầu thay của người Tesalonica vậy đấy. Hãy viết vào sổ lịch của bạn tên của (ít nhất) một người mà bạn muốn cầu thay suốt tháng 12 này. Nguyện xin Chúa đồng hành cùng bạn trong việc hỗ trợ người ấy qua sự cầu thay.


Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

BÁM CHẮC MỤC TIÊU

1 Tesalonica 1-5 
Hội thánh Tesalonica được thành lập trong chuyến truyền giáo lần thứ 2 của Phao-lô. Sau 3 tuần ‘chiến đấu’ quyết liệt, Phao-lô và đồng đội đã bị ‘đám quần chúng tự phát’ thưa ra chính quyền về tội ‘gây rối trật tự công cộng’ (Công vụ 17: 1-9). Thế là bác í buộc phải … lên đường đến Bê-rê, rồi A-then (Công vụ 17:10-34). Tại A-then, Phao-lô sai phái Timothe trở lại Tesalonica “để xây dựng và khích lệ đức tin” của những tín hữu mới 3 tuần tuổi Đạo trước sự bắt bớ khốc liệt đang xảy ra tại đó (1 Tesalonica 3:2). Và thơ 1 Tesalonica này được viết sau khi Timothe hoàn thành nhiệm vụ trở về. Lúc bấy giờ, Phao-lô đã chuyển đến Cô-rinh-tô (Công vụ 18: 1-18).
Vì được viết để khích lệ, an ủi những người đang bị bách hại vì cớ niềm tin nơi Chúa nên kết cấu cũng như văn từ của thơ Tesalonica thứ nhất này cũng khác với tất cả những thơ tín của Phao-lô. Theo ý người ta tin thì đây là bức da-meo đầu tiên thuộc kinh Tân ước mà Phao-lô đã viết, và cũng không loại trừ khả năng ‘hắn’ là sách đầu tiên của Tân ước đấy ạ, tức là ‘hắn’ được viết trước cả 4 sách Phúc Âm kia đấy.
Phao-lô dành cả 3 chương đầu để tuôn đổ lòng mình ra với “đàn con thơ dại”. Biết đâu họ nghĩ rằng bác rời Tesalonica là vì sợ bắt bớ thì răng. Dám lắm chớ, vì họ còn quá non trẻ mà. Thế cho nên, bác mới nhắc lại “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”, lúc bác rao giảng Phúc Âm cho họ, khi vừa được … xuất kho ở thành Philip; Thể nào bác vừa làm việc các ngày trong tuần để kiếm sống, rồi cuối tuần phục vụ họ làm sao; vv và vv … (2:1-11).
Đâu là cách mà Phao-lô đã sử dụng để an ủi, khích lệ những người đang trong hoạn nạn khó khăn? – Khen ngợi họ, tuyên dương họ.
Tuyên dương họ điều gì? – công việc của đức tin, công lao hay công khó của tình yêu và sự kiên nhẫn trong hy vọng của họ (1:3). Điều đặc biệt là ba phẩm chất của người tín hữu tại Tesalonica này cũng chính là tiểu đề cho từng chương (1-2-3) của thơ tín này đó nha.
Hãy dành thì giờ ngâm kíu cả … ‘3 đứa tụi nó’, không chỉ để nhận dạng, mà còn để chiếm hữu chúng, khiến chúng ngày càng gia tăng trong chính đời sống của mình.
Nhưng tại sao lại cần phải gia tăng? - Ấy là vì hiểm họa của lòng tự mãn. Một khi mà ta tự nhủ với lòng là “đủ rồi”, thì đó là lúc mà ta chính thức từ bỏ công việc của Chúa, tức công việc của đức tin. Năm xưa, cú ngã của vua Đa-vít cũng bắt đầu ở chính chỗ này (2 Samuen 11) và ngày nay cú ngã của không ít những người hùng của Chúa, những vị lãnh đạo các Hội Thánh lớn cũng bắt đầu đúng ngay chỗ ấy đấy.
Vì lý do đó, mà ngay sau khi tuyên dương là Phao-lô liền thúc giục bà con cô bác ở Tesalonica tiếp tục tấn tới trong đức tin của họ; gia tăng tình yêu thương đối với người khác và thêm lời tạ ơn trong mọi sự.
Trong 2 chương còn lại của thơ tín này, Phao-lô dành để giải thích và hướng dẫn về 4 vấn đề mà người tin thờ Chúa tại Tesalonica đang đối diện trong đời sống mỗi ngày.
Trước hết, là làm thế nào để một người tin thờ Chúa có thể … sống sạch giữa một xã hội mà chuyện sinh hoạt tình dục vô luân, phóng đãng được xem là … hết sức bình thường (4:1-8). Sao mà giống với cảnh sống của cộng đồng người Việt xa quê ở trong nước cũng như ở nước ngoài quá hén?
Gian dâm hay tình dục phóng đãng là tình trạng ăn ngủ, sinh hoạt tình dục với người khác phái mà chưa phải, hoặc không phải là vợ hay chồng của mình. Nghe này: nếu hai người chưa đăng ký kết hôn, chưa cưới hỏi đàng hoàng thì KHÔNG PHẢI là vợ chồng của nhau.
Cho dù hai đứa có gọi nhau là ‘chồng yêu’, ‘vợ yêu’ hay là gì của nhau đi nữa; cho dù bạn bè hay láng giềng xung quanh có chấp nhận tình trạng của chúng và gọi chúng là “vợ chồng” đi nữa, hay thậm chí là chúng đã có con với nhau đi nữa, thì trước mắt Đức Chúa Trời chúng là kẻ đang phạm tội gian dâm, không “biết gìn giữ thân thể mình cho thánh sạch và tôn trọng”; chúng đang “sa vào tình dục phóng đãng như người ngoại, là những kẻ không nhận biết Đức Chúa Trời.” (4:3-5)
Quan điểm của Chúa trong chuyện này là rất rõ ràng đây nhé: “Trong vấn đề nầy, chớ có ai vi phạm, hay LỢI DỤNG anh em mình; vì Chúa là Đấng trừng phạt tất cả những điều đó” (4:6). Đừng có mà lợi dụng, dụ dỗ con người ta phạm tội tà dâm, ngoại tình với mình nha các anh các chị. Chẳng nhẽ, đợi đến lúc bị “trừng phạt” rồi mới chừa hay sao?
Vấn đề tiếp theo mà bác Pôl đề cập đến là làm răng để sống một đời lương thiện và có hiệu quả? Theo bác í thì việc “yêu người khác cách thiết thực” là hãy kiếm một công việc để làm và chăm chỉ làm việc í để nuôi lấy thân, đừng làm gánh nặng cho người khác, và làm gương xấu cho người ngoại. (4:9-12). Đấy, thực tế rứa đấy. Sống Đạo là rứa đấy. Tin thờ Chúa đúng nghĩa là rứa đấy.
Vấn đề tiếp theo liên quan đến việc Chúa tái lâm (4:13 – 5:11). Có lẽ là vì chỉ có 3 tuần ở Tesalonica nên bác Pôl đã không thể dạy cách đầy đủ về đề tài này. Thế là bà con thắc mắc. Rằng, chúng em thì ô-kơ rồi, khi Chúa trở lại thì a-lê-hấp đi ngay. Nhưng còn những người thân đã chết của chúng em thì răng? Thế là bác í giải thích blah, blah, …
Điều mà chúng ta cần lưu ý ở đây lời cảnh báo “thức canh và tỉnh táo” trước giờ Chúa tái lâm. Chúa bảo “giờ Chúa đến như kẻ trộm lúc đêm khuya”, tức là rất chi là bất ngờ. Thế nhưng, không phải là bất ngờ đối với những người tin kính Chúa (5:4-5). Anh chị em ơi, hãy nhìn vào cuộc sống quanh ta mỗi ngày, nhìn vào cái cách mà người ta đối xử gian ác với nhau, nhìn vào những biến động đang xảy ra trên thế giới, đặc biệt là tại khu vực Trung Đông, thì anh chị em sẽ thấy rằng thời điểm Chúa trở lại không còn xa mấy đâu.
Ai cũng dễ dàng tin rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu sắp tái lâm. Thế nhưng, không phải người tin thờ Chúa nào cũng đang sống, cũng đang phục vụ, xử sự trong cuộc sống mỗi ngày với nhận thức rằng Chúa sắp tái lâm.
Thì giờ ngắn ngủi lắm, hãy vui hưởng cuộc đời này bằng cách ban cho người những điều tốt đẹp – ban cho tình yêu chớ không phải hận thù, ban cho hòa thuận chớ không phải phân rẽ, ban cho niềm tin chớ không phải lòng vô tín. Hãy giữ lòng vui mừng, sống đời biết ơn, tín trung cầu nguyện, và nhạy bén với sự dẫn dắt của Chúa.
Nguyện xin chính Đức Chúa Trời bình an thánh hóa anh chị em hoàn toàn. Nguyện tâm linh, tâm hồn và thân thể anh chị em được gìn giữ trọn vẹn, không có gì đáng trách trong ngày Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta quang lâm” (5:23)


Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

Phụ Lục 6: NGƯỜI XƯA ĐÃ CHẾT

Vậy, hãy giết chết những dục vọng thuộc về trần tục như gian dâm, ô uế, dục vọng ích kỷ, dục vọng xấu xa, tham lam, tham lam là thờ thần tượng. Vì những điều ấy, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống trên những kẻ không vâng phục Ngài. Trước kia, thật ra anh chị em cũng đã làm những điều ấy khi còn sống như vậy. Nhưng bây giờ, anh chị em hãy loại bỏ tất cả những điều ấy, tức là thịnh nộ, tức giận, gian ác, phạm thượng, môi miệng tục tĩu. Đừng nói dối nhau vì đã lột bỏ người cũ và các việc làm của nó, Và đã mặc lấy người mới, là con người đang được đổi mới trong sự hiểu biết theo hình ảnh Đấng sáng tạo nó. (Colose 3: 5-10)
Nếu chỉ đọc phần Kinh Thánh này thôi thì cũng hơi bị sốc đó nghe. Đạo gì mà đụng tới là ‘cắt’, là ‘giết’, là ‘máu’, là ‘huyết’ không hà. Cả quyển Kinh đều thấy ‘máu’ loang từ đầu chí cuối. Thậm chí, đám cưới, đám tang mà ‘tụi nó’ (nhất là mấy ‘ông’ Ngũ Tuần, Ân Tứ) còn ‘gào’ tha thiết luôn: “Quyền trong huyết, huyết, huyết …” He he.
Thế thì mệnh lệnh “Sát” ở đầu câu 5 trên đây có phải là … ‘sát’ thật, “giết chết” thật không?
Trong nguyên văn Hy lạp, “giết chết” ( νεκρώσατε - nekrosate) là một từ rất mạnh. Nó không có nghĩa là kiềm chế hay kiểm soát những hành vi hay thái độ gian ác, mà là … bụp phát chết luôn, là  ra đòn dứt khoát, khiến đối tượng … chết không kịp ngáp. Đại loại vậy.
Nếu đã là như thế, thì … ‘làm sao giết được người trong mộng’ đây?
Để ý rằng, theo văn cảnh thì “giết chết” đồng nghĩa với “lột bỏ” (c.9); “người cũ” đồng nghĩa với “gian dâm, ô uế, dục vọng ích kỷ, dục vọng xấu xa, tham lam” (c.5) và “thịnh nộ, tức giận, gian ác, phạm thượng, môi miệng tục tĩu, … nói dối” (c. 8,9). Vậy, đối tượng mà ta cần phải xử tử là ‘người cũ’ của chính ta. Mà ‘người xưa’ của ta đã được ‘bêu’ ra ở đây tới … 11 khuôn mặt hay 11 cái nicknames lận. Hèn chi, những tưởng cắt đứt được rồi, ai ngờ bổng một hôm … không rủ mà ‘nó’ cũng đến!
Tự xử sao? Khó chớ chẳng phải dễ à nghe. Cứ mỗi lần chuẩn bị xuống tay, thì ‘nó’ lại rên ư ử lời bài ca xưa của nhạc sỹ Vinh Sử rằng, “Tại sao anh muốn giết người anh yêu. Người yêu anh có tội tình gì đâu”. Thế là chùn. Thế là để ‘nó’ sống. Rồi ‘ta’ lại dằn vặt, vật vờ, mỗi khi ‘nó’ quấy, ‘nó’ xúi ta.
Tự xử ở đây không bao giờ đồng nghĩa với tự tử à nghe. Tự xử tức là TỪ, là KỂ NHƯ, COI NHƯ ‘nó’ đã chết. Mà một khi mình đã TỪ ‘nó’ rồi; một khi mình COI NHƯ ‘nó’ đã chết rồi thì SAO? – Thì phải cắt đứt liên lạc, phải chấm dứt cung phụng chớ sao.
“Kể như, coi như” cũng giống như câu hát của Lan khi gặp lại Điệp, người yêu cũ: “Ông hãy về đi đừng tìm kiếm nữa làm gì. Người con gái tên Lan ngày xưa đã chết”. (Chết đâu mà chết, đứng lù lù một đống đây mà sao bảo chết). Vâng. Người ấy chết thật rồi. Người con gái ‘trút ống tiền cho người yêu ăn học’ năm xưa đã chết tự … lâu … rồi (nhớ xuống Vọng cổ chỗ này nghe. He he)
Nhiều người biết rõ là bố mẹ hay người thân của mình đã thật sự chết rồi nhưng vẫn còn cúng, tức là vẫn còn phục vụ, cung phụng, hầu hạ. Ngay cả theo thuyết nhà Phật, thì người chết hiện bị tù chung thân dưới âm phủ, nên không có cách gì về nhà được mà hưởng, mà ăn. Làm gì có chuyện đang bị tù giam mà xin về phép để dự sinh nhật hay tiệc tùng của gia đình mình. Đúng không? Mà nếu có về được đi nữa, thì người chết cũng không dùng được thức ăn, thức uống như người sống. Có chăng chỉ là mấy tay ‘xã hội đen’, tức ma quỷ, giả dạng làm người thân quá cố của ta mà chễm chệ trên ấy thôi. Mà nếu đã rước mấy tay anh chị đầu gấu này vào nhà rồi á, lâu lâu mấy chả không thỏa mãn với tiền bảo kê (của cúng) định kỳ, thì sẽ quậy tưng lên để được khổ chủ thêm tiền bồi dưỡng ấy chứ.
Quay trở lại với vấn đề tự xử, tức là TỪ, là KỂ NHƯ, COI NHƯ ‘nó’ đã chết đang nói ở trên. Thoạt nhìn, thì 11 khuôn mặt hay 11 nicknames của ‘người cũ’ chúng ta kia dễ được hiểu là bản tánh cũ của chúng ta. Nhưng Lời Chúa thì khẳng định rằng, nếu chúng ta thật lòng tin nhận Đức Giê-xu làm Cứu Chúa, bản tánh cũ tội lỗi đã chết đối với chúng ta rồi (xem lại các thơ Roma, Galati, Epheso). ‘Nó’ đã bị đóng đinh trên thập giá với Đấng Christ rồi.
Vậy thì 11 ‘thằng’ kia thật sự là ai? – Đó chính là những THÓI QUEN PHẠM TỘI của chúng ta. Thế thì, mỗi khi ‘nó’ đòi hỏi, ‘nó’ kêu gào, ‘nó’ năn nĩ, ỉ ôi, … hãy cương quyết nhất định không chìu ‘nó’, hãy nói dõng dạt với ‘nó’ rằng, “Xưa rồi Diễm! … (đọc lớn Họ và Tên của bạn) với lối sống cũ (gọi đích danh: tình dục bất pháp, say xỉn, nói tục chữi thề, …) đã chết lâu rồi.
Khá nhớ rằng, mấy ‘thằng cô hồn’ này cũng dai lắm đấy, lâu lâu ‘nó’ lại giả dạng đến ‘khều’ bạn rằng nó còn đang sống. Nếu tin lời ‘nó’, chắc chắn là bạn phải ‘cúng’, tức là phải cung phụng, hầu hạ ‘nó’. Nhưng nếu bạn ‘đốp’ ngay vào mặt ‘nó’ câu “Xưa rồi Diễm!” như ở trên mỗi khi ‘nó’ ló mặt, thì đảm bảo rằng, dù nó có lì cỡ nào cũng sẽ đến lúc ‘nó’ phải ngậm ngùi lí nhí: “buồn ơi, chào mi!” thôi.


CHÚA CỨU THẾ, ĐẦU CỦA HỘI THÁNH

Colose 1-4
Giống như các thơ Epheso và Philip, thơ Colose cũng được Phao-lô viết từ chốn lao tù. Nếu thơ Epheso mô tả hình ảnh “hội thánh của Chúa Cứu Thế”, thì thơ Colose khắc họa chân dung “Chúa Cứu Thế của hội thánh”. Thơ Epheso tập chú nơi Thân, còn thơ Colose lại tập chú vào Đầu.
Thơ Epheso tập chú nơi Thân vì cớ mối quan hệ giữa các chi thể trong thân, tức giữa các thành viên trong Hội Thánh, đang gặp phải trục trặc. Thế thì, một khi mà tác giả nhấn mạnh đến vai trò của Đầu, vị trí của Đầu, thì chắc chắn là bà con cô bác ở Colose đã có chuyện gì đó không ổn trong mối quan hệ với Đầu, tức với Chúa Cứu Thế Giê-xu rồi.
Theo như những gì bác Pôl đã viết trong thơ, thì rõ ràng là tại thành phố Colose đã có ‘một bộ phận không nhỏ’ những ‘chiên da’, những ‘học giả’ đang giở trò xuyên tạc, dạy dỗ lệch lạc về chính nhân thân cũng như công việc của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Vâng, bà con tín hữu ở Colose đang bị tà giáo dụ dỗ, lôi kéo. Họ bị lừa gạt bởi những lời thuyết phục lôi cuốn (2: 4), bằng triết học và lời giả dối rỗng tuếch theo truyền thống của loài người, nguyên tắc của thế gian, chứ không theo Chúa Cứu Thế (2: 8). Họ bị cám dỗ để vâng giữ những quy luật và giáo huấn của loài người” (2:22), là những điều mà thoạt trông thì “có vẻ khôn ngoan vì thờ lạy theo quy tắc con người tự đặt ra, với sự khiêm nhường và khắc khổ thân thể, nhưng không có giá trị gì để kiềm chế đam mê xác thịt”  (2: 23).
Cần nhớ là mọi tà giáo đều “từ giữa chúng ta mà ra” (1 Giăng 2: 19), nên chúng đều có tin thờ Chúa Giê-xu cả đấy. Có điều Chúa Giê-xu của các tà giáo là một Chúa Giê-xu trong hình thức tranh biếm họa mà thôi.
Mà biếm họa là răng? - Là vẽ lại CHÂN DUNG của một người nào đó theo phương diện hài hước, thổi phồng hoặc bóp méo nhưng vẫn giữ được những nét đặc trưng dễ nhận diện nhất của người đó.
Thế thì chân dung của Chúa Giê-xu đã được đám tà giáo tại Colose bóp méo ri nì: Đức Giê-xu chỉ là Con thôi nha. Ngài không phải là Đức Chúa Trời đâu; Đức Giê-xu chỉ là tạo vật, “được sinh ra” chớ không phải là Đấng Tạo hóa gì ráo trọi; Đức Giê-xu không thật sự có thân xác con người giống như chúng ta, nên việc Ngài chết trên thập giá rồi sống lại từ trong cõi chết thì không thể nào hiểu theo nghĩa đen được; vv và vv …
Chuyện từ hồi thế kỷ thứ 1, mà sao nghe quen quá hén. Y chang như lập luận của quân ông Cọp (Corb) – là những Chứng Nhân Giê-hô-va, người nước ngoài nhưng nói tiếng Việt như gió – tại xứ Cọ này mấy năm qua hoặc như của mấy anh giai ‘Tân Chứng Nhân’ ở Việt Nam, một dạo rầm rộ đăng phây thuyết giảng hơn một năm về trước. Thật như Kinh Thánh đã nói: Nếu có điều gì mà người ta nói: ‘Hãy xem, cái nầy mới!’ thì thật ra điều ấy đã có trong các thời đại trước chúng ta rồi (Giáo Huấn 1: 10)
Nhưng tại sao những kẻ vốn “từ giữa chúng ta” lại có cái nhìn méo mó, lệch lạc, sai trật về Đức Chúa Giê-xu đến vậy? – Ấy là vì chúng đã “dứt liên lạc với Đầu” (2: 19)!
Mà đã không còn dính liền với Đầu, tức là với Chúa Giê-xu thì chẳng phải là đã … ngủm củ tỏi rồi sao. Chết từ đời tám hoánh nào rồi mà cứ tưởng mình còn đang sống. Thế mới đau.
Mà mấy đám tà đạo chuyên vẽ tranh biếm họa Chúa Giê-xu là nhằm mục đích gì ấy nhỉ? – Nhằm phá đổ đức tin của những người tin thờ Chúa; nhằm dụ dỗ người tin … “dứt liên lạc với Đầu” như chúng chớ chi.
Vậy thì đâu là giải pháp của bác Pôl đối với đám chuyên vẽ bậy này? – Bác í không rỗi hơi đi cãi tay đôi với chúng. Bác í chỉ dành thì giờ giải bày cho bà con tín hữu một cách đầy đủ, chân thật rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu là ai, những công việc mà Ngài đã làm là gì (1: 13-22).
Theo đó, Chúa Cứu Thế “là hiện thân của Đức Chúa Trời vô hình” (1: 13), là Đấng Tạo hóa (1: 16), “là Đầu của thân thể, tức là Hội Thánh”, “là trưởng nam của những người sống lại từ cõi chết” (1: 18). Chính “sự chết thân xác” của Ngài trên thập giá đã đem lại sự hòa giải giữa con người chúng ta với Đức Chúa Trời (1: 20, 22).
Để giúp cho nhân viên của mình nhanh chóng phân biệt đâu là tiền giả, các ngân hàng luôn tạo điều kiện để họ thường xuyên tiếp xúc với tiền thật. Cứ như thế thì đến lúc chạm đến tiền giả là tay của họ có thể “cảm biết” ngay. Đấy là cách của Phao-lô giúp người ta nhận diện và chống tà giáo, chống lại những sự dạy dỗ sai trật đấy ạ.
Nếu một người tin thờ Chúa được dạy dỗ những giáo lý nền tảng một cách đầy đủ, theo đúng như Kinh Thánh thì khi gặp phải tà giáo hay những sự dạy dỗ sai trật về Chúa, kiểu gì người ấy cũng nhận ra được. Thậm chí, người ấy có thể không chỉ ra được chỗ nào đúng, chỗ nào sai nhưng vẫn có thể cảm nhận được hay ngờ ngợ trong lòng rằng có gì đó không ổn.
Mục đích của Phao-lô trong thơ tín này là chỉ ra rằng Chúa Cứu Thế là trước hết muôn vật và là trên hết mọi sự. “Chúa Cứu Thế là tất cả và trong tất cả” (3:11). Ngài là Đầu của Thân Thể, tức Hội Thánh. Do đó, chỉ có dính liền với Đầu, tức là kết nối với Chúa Cứu Thế thông qua đức tin, thì người ta mới có thể nhận được sự sống đời đời. Và cũng chỉ có duy trì sự kết nối với Ngài thì người tin thờ Chúa mới có được quyền năng để sống một đời tin kính, đời sống cơ-đốc đích thật.
Mà đời sống cơ-đốc đích thật là răng? – Là luôn yêu Trời hơn yêu Đời (3:1-4); là … ngàn thu vĩnh biệt với tình dục bất khiết (3:5-8); là sống chân thật giữa Đời (3:9-15), là yêu người – đồng đạo, bạn đời, con cái, bố mẹ, chủ tớ – bằng tình Trời (3:16 – 4:1), là duy trì mối quan hệ với Trời qua sự cầu nguyện (4:2-4) và không quên nắm lấy cơ hội để rao báo Phúc Âm (4:5-6).
Trước khi chia tay, xin vắn tắt vài lời đối với câu “Đức Con là hiện thân của Đức Chúa Trời vô hình, là trưởng nam trên tất cả vạn vật” hay “là Đấng sinh ra trước tất cả mọi loài thọ tạo” (1:15). Vì câu Kinh Thánh này có từ SINH RA nên những người theo Chứng Nhân Giê-hô-va, cả phiên bản cũ lẫn mới, đều dựa vào đấy để cho rằng, Chúa Giê-xu chỉ là vật thọ tạo chớ không phải và không thể là Đức Chúa Trời được.
Thật ra, thì chỉ cần so sánh với từ “sinh ra” hay “trưởng nam” ở ngay trong câu 18 thôi thì ta cũng hiểu là Phao-lô đang nói về vị thế đứng hàng đầu của Chúa Giê-xu trong mọi sự chớ không phải là chuyện sinh đẻ hay được tạo dựng gì ở đây cả. Còn nữa, câu 16 cho thấy rằng Đức Chúa Con chính là Đấng Tạo hóa. Hóa ra, Chúa Giê-xu vừa là tạo vật lại vừa có thể là Đấng Tạo hóa à?
Cần chi phải giải nghĩa nguyên văn Hy Lạp hay sử dụng Phúc Âm Giăng để chứng minh chuyện này, đúng không?
Ai không công nhận Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời thì xin cứ việc. Riêng chúng ta,“đã tiếp nhận Đấng Christ Jêsus là Chúa thể nào thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy; hãy đâm rễ, lập nền trong Ngài; hãy mạnh mẽ trong đức tin như anh em đã được dạy dỗ, và càng gia tăng trong sự cảm tạ.  (2: 6-7)


Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

Phụ Lục 5: NHƯ KẺ THÙ CỦA THẬP TỰ GIÁ

“Thưa anh chị em, hãy cùng nhau noi gương tôi và nhìn xem những người sống theo gương mà chúng tôi để lại cho anh chị em. Vì tôi đã nói với anh chị em nhiều lần, nay tôi phải nói lại trong nước mắt: Có nhiều người sống như kẻ thù nghịch thập tự giá của Chúa Cứu Thế. Kết cuộc của họ là sự hư vong, họ lấy cái bụng làm Đức Chúa Trời mình và vinh quang trong cái đáng hổ thẹn. Họ chỉ nghĩ đến những điều thế tục. Trái lại chúng ta là công dân trên trời, chúng ta đang trông đợi Đấng Cứu Thế từ đó đến, là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài, bởi quyền năng đã bắt muôn loài qui phục mình, sẽ biến đổi thân thể hèn mọn của chúng ta ra giống như thân thể vinh quang Ngài”. (Philip 3: 17-21)
Đây là những lời tâm tình của sứ đồ Phao-lô từ chốn lao tù với những thành viên hội thánh Philip. Cụm từ “có nhiều người sống như kẻ thù nghịch với thập tự giá” mà Phao-lô đề cập ở trên là những Cơ-đốc nhân chớ không phải người ngoại.
Đã là Cơ-đốc nhân, tức là người tin thờ Chúa, mà còn có thể sống như kẻ thù của thập tự giá sao? Chắc chắn là Phao-lô không nói điêu, không vu oan giá họa cho người khác rồi. Thế thì đâu là chân dung của mấy ‘nhân dzật’ … ‘thấy vậy mà không phải vậy’ này?
Khi nói đến thập tự giá của Chúa Cứu Thế Giê-xu là ta muốn nói đến tinh thần hy sinh, từ bỏ chính mình vì người khác. Ngược lại với thập tự giá là lối sống ích kỷ, chỉ biết vun vén, lợi dụng người khác để thỏa mãn những nhu cầu, những ham muốn, sở thích của riêng mình.
Cơ-đốc nhân có lối sống thù nghịch với thập tự giá của Đấng Christ là những người ‘đi đạo vì … gạo’; Người hầu việc Chúa có lối sống thù nghịch với thập tự giá của Đấng Christ là những người xem chức vụ, hội thánh, bầy chiên như là phương tiện để kiếm sống.
Phao-lô dùng một cụm từ đầy hình ảnh để khắc họa những ‘khuôn mặt … mốc’ đang lẫn trong hội thánh Chúa, đang khoát áo người đầy tớ Chúa: “lấy bụng mình làm Đức Chúa Trời”. Nói nôm na, những người này đang thờ cái bụng của họ chớ chúa, chiếc gì. Điều đó có nghĩa là, chuyện gì ‘có ăn’ hay ‘ăn được’, chuyện gì có lợi cho cá nhân thì mấy ‘chả’, mấy ‘cổ’ mới làm, còn nếu ‘nỏ có chi’ á … đừng có mơ. Hic.
Thêm nữa, những thành phần này “vinh quang trong cái đáng hổ thẹn, chỉ nghĩ đến những điều thế tục”. Có nghĩa là ‘mấy anh, mấy chị’ nhà ta … hơi bị khác người: luôn lấy làm vinh dự, lấy làm tự hào trong những chuyện mà người khác luôn cảm thấy hổ thẹn, xấu hỗ. Người ta thì tốt khoe, xấu che còn mấy ảnh, mấy chỉ chơi ngược lại: tốt che, xấu khoe. (Mà hổng biết những thành phần sống “nghịch với thập tự giá” này còn có gì tốt để mà che không nữa).
Nhiều khi, nghe ‘chúng’ khoe mà mình ngồi bên còn muốn kiếm chỗ trốn. Đôi lúc, MSB tui ‘ước ao’: phải chi Bin Laden chưa bị giết thì mấy ‘tay’ này đăng ký làm cảm tử quân cho khủng bố coi bộ được à nghe (vì nó nỗ quá, không ai chịu nỗi!)
Ác nỗi, mấy người này “trong (thờ) bụng, ngoài Chúa”, nên Phao-lô khóc hết nước mắt cũng phải thôi. Mà cũng có thể lắm, mấy anh chị này không hề biết rằng, họ đang sống thù nghịch với thập tự giá ấy chứ.
Mà dù có biết hay không, thì kết cuộc chờ họ là sự suy vong, nếu họ không tỉnh ngộ.
Anh chị em thân mến của tôi ơi, hãy thành thật với chính mình: anh chị em đang sống cách hòa thuận hay đang thù nghịch với với thập tự giá của Chúa Cứu Thế? Đức Giê-xu hay là cái bụng của anh chị em đang là Chúa, là Chủ của anh chị em? Vì ai (hay vì cái gì) mà anh chị em đi cầu nguyện, đi nhà thờ, đi làm chứng và làm những công việc ‘thiêng liêng’ khác vậy?
Vẫn còn cơ hội để thay đổi vào hôm nay.