Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

VỢ TÔI LÀ … CA-VE

Ô-sê 1-3
Người ta thường nói “thà lấy đĩ về làm vợ, chớ không ai lấy vợ về làm đĩ”. Thế nhưng, đối với Ô-sê – một người hầu việc Chúa trẻ tại vương quốc Y-sơ-ra-ên vào những năm 760-720 TCN thì lại … lãnh trọn cả hai: cưới ca-ve làm vợ, rồi cô ấy lại bỏ đi làm ca-ve!
Theo lịnh Chúa, Ô-sê cưới một cô ca-ve tên là Gô-me làm vợ (1: 2-3). Sau khi sinh cho ông 3 đứa con, Gôme lại quay về đường cũ, qua tay không biết bao khách làng chơi và cuối cùng bị đem bán ở chợ nô lệ. Đức Chúa Trời lại truyền cho Ô-sê đi chuộc rồi đem Gô-me trở về, và tiếp tục yêu thương cô ấy (3: 1). Đó là tất cả những gì tối thiểu mà Đức Chúa Trời cho phép xảy ra, nhằm chuẩn bị cho Ô-sê đi ra rao giảng cho dân Ysơraên về tình yêu vô điều kiện của Ngài.
Mặc dầu không xứng đáng với tình yêu ấy, nhưng dân Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời chọn làm tuyển dân của Ngài, chẳng khác nào Gô-me được Ô-sê chọn làm vợ, cho dù nàng chỉ là một gái bán dâm.
Sách Ô-sê là một trong 12 sách, thường được gọi là “tiểu tiên tri” của Kinh Thánh. “Tiểu” ở đây mang ý nghĩa là “mỏng” (so với “đại” là “dày”), chớ không phải là chức vụ của anh í không mấy quan trọng. Nhớ đấy nhé.
Ô-sê hầu việc Chúa suốt 40 năm. Ông bắt đầu chức vụ dưới thời trị vì của vua Giê-rô-bô-am II (1: 1; 2 Vua 14: 23-29). Nếu chỉ xét trên khía cạnh chính trị và kinh tế thì đây là giai đoạn phát triển khá ổn định tại vương quốc phía Bắc, và như thế vua Giê-rô-bô-am II có thể được xem là một người lãnh đạo tài năng. Thế nhưng, trong mắt của Đức Chúa Trời – tức là trong phương diện đức tin, trong đời sống tâm linh – thì ông bị kể là một vị vua ác (2 Vua 14: 24).
Sống trong cảnh thành công, sung túc như thế thì không dễ dàng để người ta chấp nhận rằng mình đã sa sút đức tin, đã lìa xa Chúa đâu nhỉ. Lúc bấy giờ, người dân ở vương quốc phía Bắc vẫn tiếp tục thờ phượng những tượng bò bằng vàng. Quá sai trật đúng không? Thế mà, họ lại được giàu có, an ninh chính trị thêm vững vàng nữa cơ. Đấy chính là lý do mà dân Y-sơ-ra-ên càng thêm sùng kính đối với thần tượng bò vàng. Vì họ tin rằng, những gì mà họ có được như bạc vàng, bánh, nước, lông chiên, vải, dầu và thức uống là do thần bò ban tặng (2: 5, 12).
Biết bao người ngày hôm nay cũng tin như thế. Họ chân thành tin rằng những gì mà họ đang có là do những ông thần bà thánh mà họ đang thờ phượng hoặc ít nữa là ông bà tổ tiên đã khuất của họ ban cho. Họ đâu biết rằng, chính Đức Chúa Trời mới là Đấng đã ban lúa mì, rượu mới và dầu cho họ, cùng vô số bạc, vàng (2: 8).
Nếu là dân ngoại mà không biết điều này thì còn có thể hiểu được, song nếu đã là người tin thờ Chúa mà còn hiểu sai về nguồn phước của mình hoặc sự giàu có, thành đạt của mình đến từ đâu thì đúng là không thể chấp nhận được. Hỡi quý tôi tớ Chúa, hỡi những anh chị em đang sống hoặc phục vụ trong cảnh sung túc, thành đạt, an nhàn, khá canh giữ lòng mình trước tình trạng sa sút thuộc linh.
Tạm gát chuyện thờ thần tượng – tức là chuyện ngoại tình thuộc linh – của dân sự Chúa xưa lại, ta quay sang tìm hiểu chuyện hôn nhân của chàng tiên tri trẻ Ô-sê.
Hôn nhân của Ô-sê là do Chúa sắp đặt hoàn toàn. Và cuộc hôn nhân này là một bài giảng sống mà Đức Chúa Trời muốn gởi đến cho đám dân bội bạc của Ngài là Y-sơ-ra-ên trong thời của Ô-sê.
Chúng ta học được điều gì qua câu chuyện tình có một không hai của chàng trai trẻ Ô-sê?
Trước hết, đó là việc Đức Chúa Trời thường sử dụng những kinh nghiệm sống của chính chúng ta để chuẩn bị chúng ta cho một công việc trọng đại nào đó mà Ngài kêu gọi. Chúa dùng mỗi ngày mà chúng ta đang sống để sửa soạn chúng ta cho những ngày tới sẽ sống và hầu việc Ngài.
Tiếp theo, đó là thái độ vâng phục Chúa cách tuyệt đối. Mà để vâng phục Chúa cách tuyệt đối khi đi cưới một cô gái điếm về làm vợ thì người của Chúa – một trai tơ – phải chấp nhận trả một cái giá khá đắt: Nhục.
Không phải một mình Ô-sê phải chịu muối mặt khi phải rước cô ca-ve này về làm vợ, và khi phải bất lực nhìn thấy ả lại ngựa quen đường cũ, mà cả 3 đứa con của ông cũng phải chịu xấu hổ khi mang lấy những cái tên lạ đời như thế. Đấy, cả nhà phải trả giá chớ không phải chỉ có riêng mỗi người được kêu gọi vào chức vụ mà thôi đâu nhé.
Vì không hiểu được điều này, và có lẽ cũng không được chuẩn bị cho điều này nên có rất nhiều người vợ, người chồng và đặc biệt là con cái của những người hầu việc Chúa đã đâm ra hoặc là oán trách Chúa, lìa bỏ Chúa, hoặc là chì chiết, chống đối, quấy phá, ngăn cản người chồng (người vợ hoặc bố hay mẹ) của mình bước vào chức vụ hay thực thi chức vụ được Chúa kêu gọi. Đã có không ít cuộc hôn nhân của những người hầu việc Chúa phải (hoặc sắp phải hay luôn bị đe dọa phải) ly dị vì lý do này đấy.
Chỉ có trong cuộc mới thấu được cái giá phải trả, chớ còn người ngoài – dù là trong hay ngoài hội thánh – thì ít ai hiểu được lắm. Vì không hiểu được nên đa phần thì người ta chỉ biết hoặc phê phán hoặc là liên tục đòi hỏi cách quá đáng sự hy sinh của cá nhân người hầu việc Chúa và của cả gia đình người ấy mà thôi.
Tiện đây, cũng xin nhắc những anh trai đang hầu việc Chúa còn độc thân rằng, Ô-sê cưới Gô-me là theo lịnh Chúa, chớ không phải anh í phải lòng cô í trước đó rồi. Nói ra điều này là vì ngày nay có những bạn trẻ đang đứng trong chức vụ – đặc biệt là trong chức vụ chăn bầy – bất chấp mọi lời khuyên can, tư vấn hay những chuẩn mực của Kinh Thánh đối với hàng tư tế (21: 13-15), cứ đem chuyện hôn nhân của Ô-sê ra để biện minh cho quyết định … “cưới lấy được” cô gái từng ‘có số má’ trong chuyện chăn gối ngoài luồng. Đúng là “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ”!
Nầy anh bạn trẻ, Chúa bảo Ô-sê cưới cô ca-ve Gô-me “vì đất nước nầy phạm tội ngoại tình khi lìa bỏ Đức Giê-hô-va” (1: 2). Chúa muốn sử dụng cuộc hôn nhân khác người như thế để cảnh tỉnh một dân tộc, để đem dân tộc đó trở lại với chính Ngài. Thế thì Chúa có bảo bạn cưới cô gái í vì một sứ mạng tương tự không đấy?
Nếu Chúa không bảo thì đừng có cương nha. Vấn đề ở đây không liên quan gì đến chuyện tội lỗi trong quá khứ của người ấy đã được huyết Chúa Giê-xu rửa sạch, khi tiếp nhận Chúa đâu nhé. Vấn đề ở đây cũng không phải là sợ cô ấy sẽ lại ngựa quen đường cũ, mà là thái độ vâng phục của một người hầu việc Chúa. Nếu Chúa không bảo bạn cưới người ấy thì chắc chắn là bạn sẽ không đủ sức để chịu đựng trong những ngày về sau đâu.
An tâm đi, Chúa biết điều gì là tốt nhất đối với bạn. Trong khi … ‘gia đình có điều kiện’ thì tại sao lại từ chối chọn điều tốt nhất nhỉ? Đừng quên rằng, kẻ thù của điều tốt nhất chính là điều tốt đấy nha.


Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

DÀI THEO LỊCH SỬ

Đanien 10-12 
Ba chương Kinh Thánh hôm nay ghi lại sự hiện thấy cuối cùng của Đa-ni-ên liên quan đến một cuộc đại chiến ở thì tương lai. Lúc này, Đa-ni-ên đã vào độ tuổi U 80 rồi. Và có lẽ, ông đã quá già để cùng Ê-xơ-ra lãnh đạo dân Do Thái về tái thiết lại quê hương, trong lần hồi hương thứ nhất (Ê-xơ-ra 1-2)
Có rất, rất nhiều điều chúng ta có thể học được qua phần Kinh Thánh hôm nay
Trước hết, đó là việc tồn tại một thế giới vô hình, và một thế lực thần linh vô hình đằng sau mỗi một chính thể trên đất. Hình ảnh “vua/thủ lĩnh/ông hoàng (prince) Ba-tư, Hy-lạp” (10: 13, 20) là nói về các linh chủ quyền hay linh lãnh địa ấy đấy. Đây cũng chính là những quyền lực vô hình, những quyền lực thống trị, những quyền lực tối tăm của thế gian nầy, và những quyền lực của các tà linh trên trời liên quan đến chiến trận thuộc linh mà về sau này Phao-lô đã đề cập trong thơ Ê-phê-sô.
Các thế lực thần linh này không chỉ ‘can thiệp cách thô bạo vào công việc nội bộ’ của các quốc gia trên đất, mà còn ngăn trở Chúa đáp lời cầu nguyện của con dân Ngài cách rất chi là quyết liệt (10: 12-14). Điều gì xảy ra cho Đa-ni-ên nếu ông chấm dứt ăn kiêng (không phải kiêng ăn), cầu nguyện vào ngày thứ 20, chẳng hạn? – Câu trả lời chắc chắn là không đến được với ông rồi, đúng không.
Giờ thì anh chị em đã hiểu tại sao mình phải cầu nguyện cách bền đổ rồi chớ. Và có thể lắm câu trả lời mà anh chị em chờ đợi bao lâu nay còn đang bị ngăn cản trong thế giới linh cũng nên đấy. Khá nhớ rằng, khi một người tin kính Chúa dốc lòng cầu nguyện thì cả thế giới thần linh đều chuyển động theo. Và cũng đừng quên rằng, “ngay từ ngày đầu” khi người ấy dốc lòng cầu nguyện thì Đức Chúa Trời “đã nghe”, và ngay lập tức câu trả lời liền được một sứ giả mang xuống cho người.
Quá rõ ràng rồi đấy nhé. “Hãy xin, sẽ được”, “hãy kêu cầu Chúa, Chúa sẽ trả lời cho” liền đấy nhé. Thế nhưng, bạn có còn tiếp tục chiến đấu trong sự cầu nguyện cho nhu cầu của mình không đấy?
Cuộc đại chiến được đề cập trong chương 11 là một lời tiên tri vô cùng đặc biệt. Nó mô tả cuộc thư hùng giữa hai quốc gia mà Israel bị kẹp ở giữa, chẳng khác chi một chiếc bánh hambuger. Đây là lời tiên tri đã được ứng nghiệm đến từng milimet, khoảng chừng 375 năm sau đó, giữa hai triều đại Ptolemy ở phía Nam (Ai-cập) và Seleucus ở phía Bắc (Syria). Cuộc thư hùng này diễn ra, không dài lắm. Hai bên uýnh nhau có … 135 năm thôi hà. Sở dĩ, chuyện uýnh đấm của Ai-sy lại được ghi vào Kinh Thánh là vì dính đến “lát thịt” Israel ở giữa mà thôi.
Đấy nhé, anh nào muốn nổi tiếng, muốn được lưu danh sử sách thì cứ đụng, cứ quẹt đến con dân Chúa là được … điểm danh liền à. He he.
Chúng ta học được điều gì từ “bản tin chiến trường” dài hơn thế kỷ này?
Trước hết, đó là việc Chúa biết hết mọi sự, thấy trước hết mọi việc. Tiếp theo, Chúa có thể tỏ bày cho những ai dốc lòng tìm hiểu “việc gì sẽ xảy đến” và cuối cùng là Chúa có thể sử dụng những cuộc chiến tranh giữa các đại cường để luyện lọc thanh tẩy dân sự của Chúa và để hoàn thành chương trình tất định của Ngài (10: 1, 12, 14; 11: 14, 35-36)
Tuy lịch sử đã xác nhận hai năm rõ mười rằng cuộc thư hùng được đề cập trong chương 11 của sách Đa-ni-ên đã hoàn toàn ứng nghiệm rồi. Tuy nhiên, thấp thoáng trong đó vẫn có những chi tiết chờ lần ứng nghiệm thứ hai hay sao í. Chẳng hạn, những câu ni:
“… và ĐẾN CUỐI CÙNG CÁC KỲ, tức là các năm, vua ấy lại tiến công với một đoàn quân hùng hậu, trang bị rất đầy đủ (11: 13)
“ĐẾN THỜI KỲ CUỐI CÙNG, vua phương nam sẽ tấn công vua phương bắc … Nhưng ngày tận số của vua sẽ đến mà không một ai cứu giúp cả” (11: 40, 45)
“LÚC BẤY GIỜ, Mi-ca-ên, thiên sứ bảo vệ dân ngươi, sẽ can thiệp. Sẽ có một thời kỳ hoạn nạn chưa từng thấy, từ khi các nước được thành lập cho đến lúc ấy. NHƯNG LÚC BẤY GIỜ, tất cả những ai trong dân ngươi có tên ghi trong sách đều sẽ được giải cứu. Nhiều người ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, người thì được sống đời đời, kẻ thì chịu tủi nhục gớm ghiếc muôn đời (12: 1-2)
Rõ ràng, những biến cố này liên quan đến kỳ Đại nạn, đến ngày sau rốt rồi. Thế thì, cuộc thư hùng quyết liệt, mà kết cuộc là vị vua phương Bắc giành chiến thắng kia (11: 21-45), chẳng qua cũng chỉ là … bản dùng thử (trial version), là chiếc bóng của hình thật sẽ đến vào kỳ chung kết đời mà thôi.
Như vậy, vua Antiochus IV hay còn gọi là Antiochus Epiphanes (tức Antiochus Khùng), vị vua cuối cùng của phương Bắc – một kẻ đáng khinh dể hay khinh miệt - một tay bần tiện - một kẻ gian hùng - một tên bỉ ổi (11: 21) – chỉ là phiên bản thử nghiệm, còn Antichrist mới là bản chính! Và nếu điều này là chính xác thì ‘hộ khẩu’ của Antichrist đã rõ hơn rồi đấy: một địa phương nào đó thuộc Syria và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Biết đâu chừng, hắn xuất thân từ Bẹt-găm, nơi được mệnh danh là “ngai của quỷ Sa-tan” cũng nên (Khải Huyền 2: 12-13).
Hiện tại, thì Thổ Nhĩ Kỳ hay Syria không phải là những thế lực quân sự hùng mạnh, và tại những quốc gia này chưa thấy xuất hiện những lãnh tụ tầm cỡ quốc tế. Thế nhưng, vị thế địa chính trị của hai quốc gia này trong bàn cờ quốc tế là không hề nhỏ, đặc biệt là vị thế chiến lược của họ trong việc thảo trừ 2 thế lực khủng bố quốc tế là Al-Quaeda và IS (Islam State), hai thế lực đều có gốc gác từ quốc gia phương Nam (Ai-cập) xưa.
Cũng cần nói thêm rằng, trên nền của hai quốc gia Hồi Giáo là Syria và Thổ Nhĩ Kỳ này đã từng tồn tại một đế quốc hùng mạnh, trị vì gần 700 năm (1299-1923) trãi dài trên 5,6 triệu cây số vuông (km2), bao gồm cả Âu, Á, Phi. Đó là đế quốc Ottoman. (Không hiểu sao, các sử gia Cơ-đốc phương Tây khi luận giải những lời tiên tri về thời kỳ cuối cùng lại thường bỏ qua ‘đại nhân’ Ottoman này. Hoặc là bị mù màu hoặc là có ý đồ gì rầu!)
Rõ là còn có quá nhiều ‘chiện’ hổng hiểu, đúng không? Nhưng đừng quá lo lắng, vì anh chị em có thể sẽ tìm được sự an ủi khi biết được rằng thậm chí Đa-ni-ên cũng không hiểu hết tất cả những gì ông được bày tỏ kia mà (12: 8). Thế thì, đừng quá lo về những gì mình chưa hiểu, mà hãy lo về những gì mình đã hiểu.
“Còn ngươi, hãy giữ trung tín cho đến cuối cùng. Ngươi sẽ được an nghỉ và đến cuối những ngày, ngươi sẽ đứng dậy trong sản nghiệp mình.” (12: 13)
Đó là điều mà Đa-ni-ên đã hiểu, còn ngươi thì sao?


Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

NHÌN THẤU TƯƠNG LAI

Đanien 7-9
Trong ba chương Kinh Thánh hôm nay, Đa-ni-ên đã được tỏ cho biết lịch sử của loài người từ thời điểm ông đang sống, khi Nê-bu-cát-nết-xa đang cai trị, cho đến lúc chung kết đời, khi Vương quốc của Chúa được thiết lập trên đất.
Khác với giấc mơ về pho tượng người mà vua Nê-bu-cát-nết-xa đã thấy trong chương 2, các giấc mơ và sự hiện thấy của Đa-ni-ên trong phần Kinh Thánh hôm nay, toàn thú là thú, mà là quái thú mới kinh chớ. Thế nhưng, dù là thú hay người thì cũng cùng nói về 4 siêu cường lần lượt xuất hiện trên thế giới mà thôi.
Pho tượng là dáng vẻ bề ngoài, là cái nhìn của con người đối với những đế quốc này. Còn 4 quái thú là bản chất thật của 4 vương quốc, và cũng là cái nhìn của Chúa về những chính thể đó.
Thế cho nên, nếu có ai đó nghĩ rằng sẽ có một ngày, một chính thể nào đấy, sẽ ủng hộ đạo Chúa hết lòng thì người ấy thật chưa thấu được bản chất thật của các thể chế chính trị rồi.
Không riêng gì đạo Chúa, mà đạo nào cũng vậy, dù là Hồi, là Ấn, hay Phật giáo, thậm chí khi được xem là quốc giáo đi nữa thì anh nào cũng bị lợi dụng mà thôi. Rất nhiều anh bị lợi dụng tha thiết những lại tưởng rằng mình được trọng dụng, tưởng rằng mình được ủng hộ mới đau chớ.
Hãy nhìn vào những quái thú – bản chất của những thể chế chính trị – từ thời Đa-ni-ên cho đến kỳ chung kết đời mà tỉnh ngộ nha bà con.
Theo sự giải mật của Chúa thì 3 vương quốc đầu tiên lần lượt sẽ là Babilon, Mê-đô Ba-tư và Hy Lạp. Còn nếu căn cứ theo lịch sử thì quái thú thứ 4 chính là đế quốc La Mã.
Thế nhưng, cho đến tận bây giờ các nhà giải kinh vẫn còn rất … tù mù về hình ảnh: “mười sừng rụng ba, rồi từ ba ra một” của nó. Tù mù vì không biết được rằng, “mười sừng” là một liên minh gồm 10 quốc gia, kiểu liên minh châu Âu (EU) như hiện nay, hay từ trên ‘cái nền’ của đế quốc La Mã xưa sẽ lần lượt xuất hiện 10 cường quốc, và cường quốc sau cùng, tức “chiếc sừng nhỏ, có mắt, có miệng” sẽ là cường quốc do Anti-Christ, tức kẻ chống Chúa cai trị chăng. Chịu.
Khi Liên minh Châu Âu được thành lập vào năm 1951 với 6 thành viên, người ta đã vội cho rằng “phiên bản cuối cùng” của quái thú thứ 4 đã xuất hiện, nhất là vào năm 1981 khi số thành viên của EU đạt đến con số 10. Thế nhưng, từ đó đến nay, chẳng thấy ‘sừng’ nào rụng đã đành, lại còn thấy mọc thêm, không phải 1 mà là những đến … 18 em nữa, nâng tổng số ‘sừng’ thành 28! Đó là chưa kể còn hơn 10 em khác đang sắp hàng chờ dài cổ để được ‘mọc’ đấy. Thế là, hỏng bét, đành phải chờ đợi thêm ít lâu nữa thôi. He he.
Nếu biết rằng, từ thời Đa-ni-ên đến ngày chung kết đời chỉ có 4 siêu cường được hiện diện trên đất, thì mới hay bao nhiêu mưu mô, toan tính, tội ác để tranh ngôi bá chủ thế giới của bao lãnh tụ, bao quốc gia thật chỉ là công cốc, là dã tràng xe cát mà thôi.
Còn nữa, mọi cường quốc trên đất này cũng phải đến hồi kết thúc. Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ được thiết lập để thay thế cho tất cả các vương quốc ấy. Đó chính là “hòn đá chẳng phải bởi bàn tay loài người đục ra” đã được nói đến trong chương 2.
Khá nhớ rằng, khi Đa-ni-ên nhận được những mặc khải này thì hạn định 70 năm lưu đày của dân Giu-đa tại Babilon chưa mãn. Do đó, sứ điệp này trước hết là dành để yên ủi họ, những người Do Thái đang chịu hình khổ bởi con quái thú thứ 1: đế quốc Babilon.
Qua sứ điệp tiên tri này, Chúa muốn cho dân sót của Ngài biết được rằng, sự cuối cùng thuộc về Chúa. Chính Chúa, Đức Chúa Trời của tổ tiên họ, chớ không phải các vị vua ngoại quốc, mới là Đấng nắm giữ tương lai của họ. Chúa không chỉ nắm giữ tương lai của họ, mà còn nắm giữ tương lai của mọi vương triều, mọi thể chế của mọi quốc gia thuộc mọi thời đại.
Trong chương 9, vì thời lượng và mục tiêu của Bộ Hành Xuyên Kinh Thánh … không cho phép, nên việc đi sâu vào giải luận lời tiên tri nổi tiếng về 70 tuần lễ, liên quan đến chức vụ của Chúa Cứu Thế và kỳ sau rốt (9: 24-27) là không thể. Do đó, anh chị em nào muốn học biết sâu hơn nên tìm đọc thêm các tư liệu giải kinh, bình giảng riêng về đề tài này.
Điều duy nhất mà chúng ta sẽ ‘ngâm kíu’ trong chương này là gương mẫu cầu thay của Đa-ni-ên. Cầu xin Chúa làm thành điều Chúa đã hứa (9: 1-19)
Trước hết, hãy lưu ý rằng, khi cầu thay, Đa-ni-ên đã đồng hóa chính mình với dân tộc mình. Ông đã đứng vào chỗ của dân tộc mình mà xưng tội với Chúa, như thể chính ông là người phạm tội vậy. Không phải “xin tha tội cho họ” mà là “xin tha tội cho chúng con”. Cầu thay là như rứa đấy.
Nhưng nếu Chúa đã hứa là tròn 70 năm sẽ xong án thì tại sao lại cần phải cầu nguyện? Nếu đã muốn thì cần gì phải xin, còn nếu Chúa đã không muốn thì xin để làm gì? Không lẽ, cầu nguyện lại có thể thay đổi được ý muốn của Chúa sao?
Câu trả lời là ri: Khi Đức Chúa Trời muốn có một kết quả nào đấy (trong trường hợp này là sự hồi hương) thì Ngài cũng định ra phương tiện (lời cầu nguyện) để đạt được hay hiện thực hóa điều đó. Như vậy, lời cầu xin của chúng ta không thay đổi điều mà Đức Chúa Trời đã định thực hiện. Nhưng nó được mặc định là phương tiện mà qua đó, Chúa làm trọn mục đích của Ngài. Đó là lý do mà Chúa bảo: “hãy xin (hẳn nhiên là xin theo ý Chúa nha) – thì được”.
Có rất nhiều lời hứa của Chúa dành cho người tin thờ Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Những lời hứa này không tự động xảy ra với bạn đâu. Hãy theo gương Đa-ni-ên mà ‘chiếm hữu’ lấy những điều đấy cho riêng mình qua sự cầu nguyện.
Bạn đã sẵn sàng chưa?


Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

THẬT KHÁC GÌ MƠ

Đanien 4-6 
Ba chương Kinh Thánh hôm nay thuật lại ba câu chuyện … sốc toàn tập luôn. Chuyện nào cũng sởn gai ốc, nổi da gà cả. Chuyện nào cũng thuộc tip “đùng một phát” cả. Đùng một phát: người thành thú, rồi lại đùng một phát: thú lại thành người; Đùng một phát: vua đang nhậu chuyển sang … từ trần; Đùng một phát, rồi lại đùng một phát.
Chương 4, là “chuyện đời tự kể” của đại đế Nê-bu-cát-nết-xa sau 7 năm được trở lại làm người. Ở Việt nam ta cũng có câu chuyện na ná vậy khi vua Lý Thần Tông (1116-1138) bổng dưng hóa hổ. Không rõ là vị vua thời Lý ngày xưa có phải vì quá … ‘kao nghiệu’ hay không mà bổng dưng thành thú, chớ còn vị đại đế của Babilon thì kiêu ngạo thuộc mức ngoại hạng, có lẽ đã lên đến bậc thượng thừa rồi.
Cỡ đại đế Nê-bu-cát-nết-xa uy danh lừng lẫy là thế, quyền uy trên muôn người trùm khắp thế giới là thế mà Chúa đập cho một phát còn biến đổi … giới tính ngay, huống chi là mấy phường tép riêu, nhãi nhép … từ cỡ ông ấy trở xuống nhễ? Ấy thế mà, trong khắp thiên hạ gần xa, không biết bao nhiêu nguyên thủ quốc gia, bao bậc anh tài hão hớn, tuy thông làu kim cổ đông tây nhưng lại không chịu thuộc bài học vỡ lòng … xưa như trái đất: “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Châm Ngôn 16: 18).
Hãy để ý điều này: Chúa cảnh báo vua trước qua giấc mơ. Tiếp theo, tôi tớ Chúa là Đa-ni-ên được sai đến để giải nghĩa sứ điệp và đưa ra “bài học áp dụng”: “Hãy lấy sự công bình mà chuộc tội lỗi, hãy thương xót những kẻ nghèo khó để chuộc những điều gian ác mình. Như vậy sự bình an vua còn có thể lâu dài hơn nữa.” (4: 27). Song có lẽ, vị vua này không quan tâm đến lời cảnh báo này từ Chúa nên 12 tháng sau, người đột ngột chuyển sang làm … thú trọn 7 năm trường!
Chúa luôn cảnh báo phạm nhân, mong phạm nhân hồi tâm tỉnh trí, quay đầu là bờ. Nhưng một khi phạm nhân bỏ ngoài tai mọi lời cảnh báo, cứ một mực “con đường xưa em đi” thì án phạt đã định chắc chắn sẽ được thi hành. Dù đó là nguyên thủ của cường quốc số 1 thế giới lúc bấy giờ hay là tuyển dân của Chúa cũng vậy.
Thế thì khi Chúa còn cảnh báo, hỡi anh chị em hãy ngay lập tức mà ăn năn, ngay lập tức quay trở lại để còn được hưởng sự khoan hồng.
Sau 7 năm sống đời cầm thú, Nê-bu-cát-nết-xa đã được trở lại làm người, được phục hồi địa vị. Thế nhưng điều quan trọng hơn hết đối với vị vua này, sau khi chịu kỷ luật, là được thay đổi hoàn toàn về nhận thức đối với Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên, tức là Đức Chúa Trời mà chúng ta thờ phượng ngày hôm nay.
Trong 2 chương trước đó, vị vua này chỉ nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời là quyền năng và lịnh cho muôn dân trăm họ không được xúc phạm đến Chúa. Thế nhưng đến chương 4 này thì đích thân nhà vua đã công khai tôn tụng, chúc tán, và thờ phượng Chúa. Đó là mục đích chính yếu của việc thi hành kỷ luật.
Và có lẽ, cũng chính nhờ vào thái độ ăn năn phục thiện đang khi bị đòn của vị vua vốn đại kiêu, đại ác này mà Chúa còn dành cho ông con đường sống, rồi trở thành nhân chứng cho Chúa. Kết cuộc của Nê-bu-cát-nết-xa có hậu chớ không … đoản hậu như ông vua cháu là Bên-xát-xa sau này.
Kiêu thì cả hai ông cháu đều kiêu cả, nhưng ông vua cháu lại thêm cái món cương … không đúng chỗ. Thành thử ra, bữa tiệc chiêu đãi dành cho cả nghìn quan viên đại thần và các mệnh phụ phu nhân triều đình đã trở nên bữa tiệc chia tay đối với người này, và là bữa cơm tử tù đối với người kia.
Chúng ta học được điều gì qua hai câu chuyện này? Trước hết, đó là Chúa nắm trong tay sinh mạng của tất cả mọi người, kể cả những người quyền cao chức trọng, hay những nguyên thủ quốc gia, dù người ấy có tin thờ Chúa hay không. Xuống lên, lên xuống không mấy hồi đâu nha.
Tiếp theo, Chúa nghe tất cả mọi lời chúng ta nói, thấy hết mọi điều chúng ta làm, dù công khai hay kín dấu, và Ngài sẽ theo đó mà xét xử phân minh. Nhanh hay chậm, nặng hay nhẹ, … thì có thể khác nhau, nhưng án phạt sẽ là chắc chắn, không thể tránh khỏi, trừ phi phạm nhân nghe lời cảnh báo mà hạ lòng ăn năn.
Câu chuyện cuối cùng, xảy ra vào một đời vua khác, ở một chính thể khác, nhưng nhân vật chính vẫn là Đa-ni-ên. Lúc này, Đa-ni-ên chắc chắn là đã già lắm rồi. Già nhưng không có nghĩa là đức tin sẽ không bị thử thách. Mà nếu một đời sống không còn thử thách, thì đức tin nếu có cũng chẳng để mần chi, đúng không?
Phép lạ lớn nhất trong câu chuyện cuối này không nằm ở chỗ bầy sư tử không ăn thịt được Đa-ni-ên, dù chúng thèm chảy dãi. Phép lạ lớn nhất ở đây, là Đa-ni-ên có thể ngủ ngon lành trong hang sư tử trọn cả đêm! Thế mới hay, người đặt lòng tin vững vàng nơi Chúa thì luôn có sự bình an thiên thượng tràn ngập trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi chốn.
Sự thử thách đức tin của người tin thờ Chúa, không chỉ là bài tập “rèn luyện thể hình” thuộc linh cho người ấy, mà còn là lời chứng sống về Chúa mà ta đang thờ phượng, cho những người ngoại đạo ở xung quanh. “Lò lửa hực” của ba chàng tuổi teen là phương tiện để cho Nê-bu-cát-nết-xa nhìn thấy Chúa, còn “hang sư tử” nơi Đa-ni-ên qua đêm là cách mà Đức Chúa Trời chọn để tỏ cho Đa-ri-út nhận biết chính Ngài.
Thế thì, “Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. … Nhưng nếu có ai vì làm tín đồ Đấng Christ mà chịu khổ, thì đừng hổ thẹn; thà hãy vì danh ấy ngợi khen Đức Chúa Trời là hơn. Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời; vả, nếu khởi từ chúng ta, thì sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin lành Đức Chúa Trời sẽ ra thế nào?” (1 Phê-rơ 4: 12, 16-17)


Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

TRÔNG & ĐỢI

Dừng Chân Lần Thứ 32 
NHÌN LẠI
Tuần rồi chúng ta đã chứng kiến cảnh Giu-đa nhận được trọn gói những gì mà tiên tri Ê-xê-chi-ên đã cảnh báo. Như một người lính canh cần mẫn, Ê-xê-chi-ên bảo vệ nhà Y-sơ-ra-ên bằng những lời cảnh báo về sự phán xét hầu đến. Ông rao báo, rao báo không ngừng nghỉ, nhưng không một lời nào của ông được người ta lắng nghe. Rồi cuối cùng, điều gì đến đã đến, vì “Thành đã bị thất thủ rồi!” (33: 21).
Thật ra thì dân sự Chúa muốn nghe lời Chúa, chỉ có điều họ không chịu áp dụng những gì đã nghe vào trong đời sống thực tiễn của mình mà thôi. Họ thuộc típ: “học không đi đôi với hành”.
Do đó, một khi biết được điều gì nên làm thì chúng ta cần phải chuyển thành hành động cụ thể ngay, tức là thực hiện những gì mà mình đã biết.
Giống như chiên không có người chăn, như những chiếc xương chết khô, rời rạc, cả một dân tộc nằm dưới sự cướp bóc và tàn phá cách không thương tiếc bởi các nước láng giềng ngoại giáo. Thế nhưng kể cả trong lúc dân sự Chúa thất bại, thì mục đích của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tỏa sáng, vì Ngài muốn cho mọi dân, mọi nước nhận biết rằng, chỉ mỗi mình Ngài – Giê-hô-va Đức Chúa Trời – là CHÚA mà thôi. Ngoài Giê-hô-va Đức Chúa Trời ra thì không có một CHÚA nào khác.
Sách tiên tri Ê-xê-chi-ên kết thúc với hình ảnh vinh quang CHÚA trở lại Đền Thờ. Điều đó minh chứng rằng, Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục công việc của Ngài đối với dân sự Ngài và Đền Thờ của họ.
Trong khi đó, Đa-ni-ên rơi vào cảnh tương phản hoàn toàn. Bị dứt khỏi thành phố yêu thương Giê-ru-sa-lem, Đa-ni-ên bị buộc phải bắt đầu “chương trình nội trú” ba năm tại học đường Babilon. Trong việc ăn uống và giải mộng của mình, Đa-ni-ên đã chứng tỏ cho những kẻ giam giữ mình biết rằng “có một Đức Chúa Trời ở trên trời” (2: 28), là Đấng giải bày những điều huyền nhiệm của thế giới này và là Đấng bảo vệ dân lưu đày của Ngài nơi đất khách quê người.
NHÌN LÊN
Cuộc sống được miêu tả như là “một tuyển tập những cuộc khủng hoảng, được liên kết cách khéo léo bởi những vụn vặt đời thường mỗi một ngày”. Những mảnh vụn đời thường tại Giê-ru-sa-lem vào lúc thiếu thời, đã mở lối cho đức tin của Đa-ni-ên vượt qua mọi cơn khủng hoảng nơi hải ngoại.
Bị bắt như là một tù binh chiến tranh, Đa-ni-ên ngay sau đó phải đối diện với hàng loạt sự chọn lựa:
“Có nên ăn những thức ăn mà họ dọn cho mình không ta?”, “Có nên chấp nhận tên mà họ đặt cho mình không?”, “Có nên kể công về những lần giải mộng cho vua không?”, “Có nên quỳ lạy tượng vàng không? Nếu không là chết chắc à”
Bố mẹ của Đa-ni-ên có thể không biết trước được những nguy hiểm mà con trai mình sẽ phải đối diện tại Babilon, nhưng họ sẽ rất tự hào vì cách vận dụng đức tin đầy khôn ngoan vào trong thực tiễn cuộc sống mỗi ngày của cậu ấy.
Cho nên chẳng có gì lạ khi danh phận của Đa-ni-ên ngày một thăng tiến. Không còn là một thiếu niên nhập cư, Đa-ni-ên đã lớn lên, và trở thành một người nam của Đức Chúa Trời, người mà sự khôn ngoan và tài xử lý giờ đã nên truyền thuyết.
NHÌN TỚI
Dù Đa-ni-ên không hề giảng một bài nào nhưng những gì ông làm trong cuộc đời của mình đúng là những bài giảng sống. Đó là sự chọn lựa mà ông đã làm; là sự khôn ngoan mà ông đã thể hiện; là sự ưu tiên một cho sự cầu nguyện với Chúa, bất chấp mọi nguy hiểm đến tính mạng; và là sự mẫn cán đối với mỗi nhiệm vụ được giao phó.
“Dám là một Đa-ni-ên” không chỉ là tựa đề của một bài thánh ca. Đó là thách thức vô tận đối với mỗi thế hệ mới trong việc trở nên “những tác nhân thay đổi” của Đức Chúa Trời tại bất cứ nơi nào mà Ngài sai phái họ đến. Có thể chưa và không bao giờ bạn nhìn thấy được bên trong của cung vua (hoặc trong … hang sư tử), nhưng bạn có thể chắc chắn là cuộc đời mình sẽ luôn đầy dẫy sự phấn khích và thách thức.
Bằng thói quen ăn uống … ‘đúng chuẩn’ của mình, Đa-ni-ên đã minh chứng rằng, thân thể của ông là đền thờ của Đức Chúa Trời. Thân thể của bạn chỉ là một phương tiện mà Đức Chúa Trời ban cho để thực hiện ý muốn của Ngài ở mặt bên này của thiên đàng mà thôi.
Thế thì, bạn có thật sự chăm sóc tốt thân thể của mình như đáng phải có không? Tức là bạn có ăn uống đủ dinh dưỡng, có nghỉ ngơi đúng mực, có thường xuyên luyện tập thể dục và tránh xa những chất gây hại không? Nếu không, thì hãy suy gẫm về tấm gương của Đa-ni-ên cách cẩn thận và rồi hãy “dám là một Đa-ni-ên”!


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

LÒ LUYỆN SIÊU NHÂN

Đanien 1-3 
Tạm biệt Ê-xê-chi-ên, với những lời tiên tri trĩu nặng tình dân tộc, nay chúng ta cùng bắt đầu gặp gỡ  tiên tri Đa-ni-ên, một vị tiên tri thuộc hàng quý tộc, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Cùng cảnh lưu vong nơi đất khách quê người như nhau, nhưng tiên tri Ê-xê-chi-ên thì sống và phục vụ giữa thành phần lao động bình dân, còn Đa-ni-ên thì sống và phục vụ trên chót vót đỉnh cao danh phận. Sứ điệp tiên tri của Ê-xê-chi-ên phần lớn là dành cho dân sự Chúa, còn sứ điệp của tiên tri Đa-ni-ên mang tầm quốc tế, chính xác hơn là liên quan đến hậu thế, đến cả dòng lịch sử của loài người.
Trong Kinh Thánh có hai sách được Đức Chúa Trời ban cho con loài người chúng ta để biết được chương trình của Ngài trong lịch sử. Đó là sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền. Đây là hai sách trong Kinh Thánh mà những lời tiên báo trong đó chưa được ứng nghiệm hoàn toàn. Sách Khải Huyền giải thích cho sách Đa-ni-ên, còn sách Đa-ni-ên thì đặt nền tảng để hiểu sách Khải Huyền. Do đó, để biết được chương trình của Đức Chúa Trời dành cho tương lai, thì trước hết, chúng ta cần phải hiểu được sách Đa-ni-ên.
Thế nhưng, Chúa lại sử dụng 2 ‘chốt chặn’ trong những mặc khải của Ngài về tương lai. Rõ ràng là có chủ ý rồi. Chốt thứ nhất, là các sứ điệp tiên tri luôn được ‘bọc’ trong dạng ngôn ngữ biểu tượng. Còn chốt thứ hai nằm ở chỗ Chúa muốn chúng ta hiểu được những phẩm chất đạo đức mà Ngài đòi hỏi nơi chúng ta trước khi kế hoạch mang tính tiên tri này bắt đầu trở nên có ý nghĩa.
Sáu chương đầu tiên của sách tiên tri này rất nên được nghiền ngẫm và thậm chí là nên ‘gối đầu giường’ đối với những con cái Chúa đang làm việc trong các cơ quan công quyền mà người lãnh đạo và phần lớn đồng nghiệp là những người không tin thờ Chúa.
Phần Kinh Thánh này cũng đặc biệt đáng đọc đối với các bạn Cơ-đốc nhân tuổi teen. Ấy là vì những nhân vật được mô tả trong đó cũng tuổi teen như rứa, sống trong một môi trường đầy cám dỗ, không có gia đình hay cha mẹ nào kiểm soát cả, nhưng họ vẫn vững vàng đức tin nơi Chúa, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Gọn một lời: trong bất cứ hoàn cảnh nào, môi trường nào nếu MUỐN thì người tin Chúa vẫn có thể sống một đời tin kính, vẫn giữ vững đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời.
Còn làm răng mà sống được như thế thì giờ ta đi vào cụ thể nhé.
Chương 1, giới thiệu 4 gương mặt trẻ dòng dõi quý tộc Giu-đa là Đa-ni-ên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria. Họ được chọn là những “hạt giống đỏ” trong chính phủ của cường quốc số một thế giới thời bấy giờ.
Vị vua của chính phủ ngoại giáo này có một kế hoạch rất căn cơ nhằm biến những chàng trai trẻ này thành người Babilon hoàn toàn. Bước một: đổi thành tên … Tây (Á). He he. Tiếp theo, tập ăn những món ăn … Tây. Ác nỗi là những món mà họ được ‘mời’, tức những món khoái khẩu của người Babilon, lại là những món mà Chúa truyền bảo con dân Chúa không được ăn.
Vậy, những thanh niên này đã ‘kiêng’ những món đó như thế nào?
Không cương đâu nha. Họ rất khôn ngoan, biết thân biết phận. Không phải khôn ngoan hay biết thân biết phận theo kiểu thỏa hiệp mà là rất nhẹ nhàng đến cầu xin ân huệ nơi lãnh đạo trực tiếp của mình là ‘sếp’ Ham-mên-xa. Để ý là họ không làm khó Ham-mên-xa vì niềm tin của mình nơi Chúa. Đó là cách xử lý tình huống cực khéo mà mỗi một chúng ta cần phải học. Vẫn có thể đẹp lòng Chúa, đẹp lòng người ta mà không bao giờ thỏa hiệp. Nhớ nha.
Chính niềm tin sắt đá, kiên định của những người trai trẻ này đã bảo vệ họ khỏi mọi sự tàn phá, hủy hoại bởi những kiến thức ngoại giáo mà họ phải học trên ghế nhà trường hoàng cung mỗi ngày.
Thế nhưng, đỉnh điểm của sự thử luyện là khi “ba chàng ngự lâm pháo thủ” của chúng ta được yêu cầu phải quỳ lạy trước tượng vàng mà vua vừa dựng lên giữa muôn trùng cán bộ chính quyền các cấp trong toàn đế quốc.
Đây là lúc mà nguyên tắc sống: “người ta sao mình vậy” lên tiếng mạnh mẽ chưa từng có. Thế nhưng, trước sau như một ba chàng tuổi teen này vẫn một mực bảo lưu quan điểm:
“Tâu vua Nê-bu-cát-nết-sa, chúng tôi không cần trình lại với vua vấn đề nầy. Nếu chúng tôi bị ném vào lò lửa, thì thưa đức vua, Đức Chúa Trời mà chúng tôi thờ phượng có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực và khỏi tay vua. Còn nếu Ngài không cứu, thì xin đức vua biết cho rằng chúng tôi cũng không phục vụ các thần của vua và không thờ lạy pho tượng vàng mà vua đã dựng” (3: 17-18).
Rất rõ ràng, rất dứt khoát, họ đã bày tỏ lòng tin cậy của mình nơi Đức Chúa Trời, dù sống hay thậm chí phải chết.
Nhưng người trẻ tuổi này đã học được một điều gì đó quan trọng hơn cả sự sống. Ấy là thà phải chết mà vâng lời Chúa còn hơn là sống mà không vâng lời Ngài. Lợi ích cá nhân của việc đồng đi và đồng chết với Chúa bao giờ cũng trổi hơn muôn phần so với việc được sống sau khi đã không vâng lời Ngài.
Đức Chúa Trời đã tôn quý những người này trong hình thức thăng chức cho họ, sau khi bảo vệ họ và đem họ ra khỏi lò lửa hực. Thật sự, họ đã bước ra khỏi lò lửa mà “chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém, quần áo họ không bị nám, ngay cả mùi lửa cũng không dính vào họ (3: 27)
Những người trẻ tuổi này đã đi qua lò thử thách và được đóng nhãn OK bởi chính Đức Chúa Trời. Họ đã được thử luyện và họ đã xuất sắc vượt qua. Việc họ đã giữ vững đức tin của mình trước những sự cám dỗ, trước những cơn thử thách, chính là lời chứng sống động cho những bậc cầm quyền về một Đức Chúa Trời duy nhất, đầy quyền năng, hiện đang sống và đang cầm quyền tể trị trên mọi thể chế, mọi vương quyền và mọi quốc gia.
Hãy nghe lời xưng nhận của đại đế Nê-bu-cát-nết-xa:
“Tôn ngợi Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô, Đấng đã sai thiên sứ Ngài đến và giải cứu các đầy tớ Ngài. Họ biết nhờ cậy Ngài, dám trái mạng vua và liều bỏ thân thể mình để không phục vụ và thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình. Vì vậy, ta ban chiếu chỉ nầy: Bất kỳ dân tộc nào, quốc gia nào, ngôn ngữ nào có người xúc phạm đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-nê-gô thì sẽ bị xé ra từng mảnh, và nhà nó sẽ trở thành đống phân; vì không có thần nào khác có thể giải cứu được như thế” (3: 28-29)
Bạn cũng có thể làm vinh danh Đức Chúa Trời cùng một cách như thế trong công ty, trong cơ quan, trong trường học của bạn. Chúa đang dõi theo bạn, và những người lãnh đạo, đồng nghiệp ngoại giáo của bạn đang chờ đợi để được biết Đức Chúa Trời qua đức tin năng động của bạn đấy.