Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

GIU-ĐA RA NGHỊCH TỬ

Giê-rê-mi 11-15 
Năm chương Kinh Thánh hôm nay tiếp tục được sử dụng để tuyên án tử đối với toàn quan, toàn quân và toàn dân Giu-đa.
Qua tiên tri Giê-rê-mi, Đức Chúa Trời đưa ra cáo buộc nghiêm khắc đối với dân sự của Ngài: “Chúng … đã bội giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của chúng.” (11: 10). Chúa đã lịnh cho Giê-rê-mi sử dụng ‘phương tiện nghe nhìn’ cực sốc – một chiếc thắt lưng bằng vãi lanh đã mục nát và mấy bầu da rượu – để minh họa cho tính nghiêm trọng của tội lỗi mà dân Ngài đã phạm cùng hậu quả chắc chắn sẽ xảy ra.
Sự phán xét của Chúa sẽ xảy ra cách nhanh chóng và khốc liệt, bao gồm hạn hán, giặc ngoại xâm và kiếp lưu đày.
Trong phần Kinh Thánh hôm nay, có đến 2 lần Chúa lịnh cho Giê-rê-mi xì-tốp cầu thay (11: 14; 14: 11). Thậm chí, Chúa còn bảo rằng, kể cả nếu có hai chiến sĩ cầu thay ‘bách phát, bách trúng’ là Môi-se và Samuen kêu van cho dân Giu-đa trong giờ phút đó đi nữa thì Chúa cũng nỏ thèm nghe luôn (15: 1).
Điều đó có nghĩa là ÁN ĐÃ TUYÊN RỒI. Không còn cơ hội nào nữa.
Thế cho nên, khi còn được nghe … réo, còn được nghe gọi, thì anh chị em ơi, hãy chân thành mà đáp ứng, hãy khiêm nhường mà trở lại đi. Đừng để tới lúc Chúa ‘xếp hồ sơ’ rồi mới ăn năn thì đã quá muộn.
Tại đây còn có một điều nữa mà mỗi một chúng ta cần phải thức tỉnh. Đó là có trường hợp, Chúa cấm người khác cầu thay cho ‘phạm nhân’. Thế thì hỡi anh chị em, hãy sống như thế nào để chính mình không rơi vào trường hợp như vậy nhé. Hãy sống như thế nào để những người khác còn được Chúa cho phép mà cầu thay cho chúng ta đó nha.
Phần Kinh Thánh hôm nay cũng cho chúng ta thấy được ít nhiều nỗi khổ của người hầu việc Chúa. Khổ vì rao giảng mà người ta không thèm nghe. “Người ta” ở đây không phải là người dưng, nước lã mà là những người ta hết đỗi yêu thương mới đau chớ. Chưa hết, không chỉ bỏ ngoài tai những lời mời gọi, khuyên dạy, những người cùng làng Anatot của Giê-rê-mi còn lập mưu ám sát ông nữa (11: 18-23).
Đau như thế thì Giê-rê-mi đã xử sự ra răng? – Khóc. Vâng, khóc xối xả luôn (13: 17; 14: 17; 15: 10, 19). Ông khóc vì bất lực, vì đau. Không phải đau cho mình mà là đau cho những ‘đứa’ mình yêu đang như xe không phanh lao vào chốn … thương đau.
Thấy vậy chớ không phải dễ khóc cho người khác đâu nha. Lại càng khó khóc hơn cho những người từ chối, chỉ trích, phê phán, nhạo báng mình; những người đang lập mưu hãm hại mình. Phải có ơn thật sự từ nơi Chúa, phải có một tấm lòng bao dung của một người chăn thật mới có thể khóc cho những thành phần như thế.
Nói như vậy, không có nghĩa là lúc nào Giê-rê-mi cũng … nâm-bờ oanh đâu nhé. Cũng đã có lúc ông từng chất vấn Chúa: “Tại sao con đường kẻ ác luôn hưng thịnh? Tại sao những kẻ sống gian trá vẫn yên ổn?” (12: 1). Nói cách khác, ông đã théc méc ri nè: “Tại sao kẻ vô đạo thì cứ sống phây phây trong khi đó người công chính lại bị bách hại?”
Lâu ngày về trước, Gióp đã từng hỏi câu đó. Thi sĩ A-sáp đã từng hỏi câu đó (Thánh Thi 73) và về sau Habacuc cũng ‘quần’ lại như thế. Và trong mỗi trường hợp câu trả lời của Đức Chúa Trời luôn có căn bản là: hãy lưu ý đến kết cuộc tất yếu của kẻ ác. Cứ cho là cách sống và sự thành đạt của chúng trong hiện tại có vẻ rất hấp dẫn đi. Nhưng trong ánh sáng của định mệnh đời đời thì bao nhiêu người trong chúng ta sẵn sàng đổi chỗ với họ.
Cuối chương 15 có một chỗ đòi hỏi phải động não đây:
“Đức Giê-hô-va phán: ‘Nếu con quay trở lại, Ta sẽ phục hồi con, cho con đứng trước mặt Ta; Nếu con làm cho điều cao quý lìa khỏi điều hèn hạ, thì con sẽ như miệng Ta. Chúng sẽ quay về với con, nhưng con không quay về với chúng’.”(15: 19)
Vì khó hiểu, nên nhiều người vội cho rằng, chắc là Chúa đang nói câu này với dân Giu-đa hay với một ai khác. Song thật ra, đây là điều Chúa đang nói với Giê-rê-mi đấy. Chúa nói với ông sau khi nghe ông … ca một bài thối … chí vô cùng (15: 10-18).
Chúa kêu gọi Giê-rê-mi hãy “quay trở lại”; Chúa bảo ông hãy làm cho quý hèn tách bạch ra. (Bản Dịch Mới và Bản Công Giáo dịch là: “Nếu ngươi nói lời quý giá thay vì lời thấp hèn”). Hiểu nổi không?
Giê-rê-mi chưa hề lìa bỏ chức vụ, chưa hề bỏ qua sự cầu nguyện. Nói cách khác, trong cái nhìn của con người, chúng ta không thấy có gì sai trật nơi Giê-rê-mi. Nhưng trong mắt của Đức Chúa Trời, thì người của Chúa cần phải trở lại. Điều này có nghĩa rằng, có gì đó đã lệch lạc, đã sai trật, đã phôi pha đi trong tấm lòng, trong động cơ, trong phương cách phục vụ hay trong đời sống của Giê-rê-mi đối với Chúa.
Trong vị tiên tri khả kính của Đức Chúa Trời mà cũng có “quý hèn” lẫn lộn sao? Trong người thánh của Chúa mà cũng có sự lộn lạo giữa “thánh” với “phàm”, giữa “xác thịt” với “thiêng liêng” sao? Một tiên tri vĩ đại mà lúc thì nói lời thấp hèn lúc thì nói lời cao quý sao?
Nếu một ai đó mà nói những lời này thì chắc là ta phải ‘bênh’ Giê-rê-mi … tới bến. Nhưng ở đây chính Chúa nói như thế thì cãi chối làm răng.
Có thể người ngoài không biết chúng ta sa sút từ đâu, sai lệch ở chỗ nào. Nhưng khi Chúa bảo hãy“quay trở lại”, tức hãy ăn năn thì điều đó có nghĩa là người của Chúa biết cần phải ăn năn điều gì và tại sao phải ăn năn.
Kinh Thánh không cho chúng ta biết sự lẫn lộn “quý-hèn” của Giê-rê-mi nhưng chắc chắn là ông phải biết. Chúa không phơi bày sự nhập nhằng của chúng ta cho bàn dân thiên hạ biết; Chúa không ‘bêu’ những gì Ngài không thích nơi chúng ta cho người ta biết đâu. Song cần nhớ rằng, Chúa luôn muốn cho con cái Ngài, tôi tớ Ngài phải làm cho sự quý lìa khỏi sự hèn. Chúa muốn cho tôi con Ngài đoạn tuyệt với những sự hèn hạ, thấp kém không xứng hiệp với địa vị một thánh nhân, một tôi tớ thánh, một người đại diện thánh của Đức Chúa Trời Chí Thánh.
Bạn có rút ra được bài học gì cho riêng mình từ phần Kinh Thánh hôm nay không?



Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

GIU-ĐA SA HÌNH TƯỢNG

Giê-rê-mi 7-10 
Trong 4 chương Kinh Thánh hôm nay, Giê-rê-mi tiếp tục rao báo án phạt mà Chúa sắp thi hành trên Giu-đa. Lần này, Giê-rê-mi vâng lời Chúa vào … tận ổ để quất trực diện luôn.
Ổ chi? – Hang ổ thờ hình tượng. Ở mô? – Đền thờ Giê-ru-sa-lem chớ mô (7: 11). Ngạc nhiên chưa?
Đây là tình trạng thuộc linh băng hoại đến kinh khiếp của vương quốc Giu-đa vào những năm đầu trị vì của vua Giê-hô-gia-kim (II Vua 23: 36-37). Khối u ác tính của việc thờ hình tượng và lối sống giả hình đã lây nhiễm đến mọi tế bào của đời sống quốc gia: từ gia đình (7: 18), những bậc trí thức, những nhà thông thái (8: 9), đến những lãnh đạo (10: 21). Và thậm chí cả đến hàng tế lễ, tiên tri, tức những người hầu việc Chúa thời bấy giờ, cũng bị … ‘dương tính’ với u ác này. Đúng là cái thời … đồ đểu!
Ác nỗi là người ta đểu mà không nghĩ rằng mình đểu; giả mà cứ nghĩ là mình thật; ác mà cứ tưởng mình là thiện; thờ quỷ ma mà cứ ngỡ là đang thờ phượng Cha; ngày nào cũng chọc giận Chúa mà cứ đinh ninh là đang làm đẹp lòng Chúa.
“Tai họa làm sao có thể xảy ra với chúng ta được, không nhìn thấy Đền Thờ sừng sửng kia à!”.
“Ông có còn đi lễ trên Đền Thờ không? Vẫn còn dâng lễ đều đặn chớ? Thế thì ô-kê rồi, không việc gì phải lo nhá. Cứ vô tư thỏa mái đi. Nếu nhỡ có sai phạm gì thì cứ đến Đền Thờ xưng tội, dâng lễ là xong ngay í mà. Thế nhá, nhá, nhá”. (Diễn ý: 7: 4, 9-10).
Người Giu-đa xưa đặt lòng tin nơi Đền Thờ (tương tự như hội thánh hay giáo hội ngày nay) chớ không đặt nơi chính Chúa. Họ tưởng rằng những nghi lễ tôn giáo mà họ thực hiện định kỳ như thế có thể cứu họ khỏi cơn đoán phạt hầu đến của Đức Chúa Trời, bất kể họ sống ra sao, phạm tội thế nào.
Không có gì sai trật trong các nghi lễ, hay các hình thức ngợi khen thờ phượng mà con dân Chúa đang thực hiện. Thế nhưng, nếu tất cả những điều đó chỉ còn là hình thức bề ngoài, chớ người thờ phượng không còn tấm lòng chân thành đối với Chúa thì sắp … mệt rồi đó nghe.
Nhà Thờ hay hội thánh hoặc giáo hội không cứu được chúng ta, chỉ có Đức Chúa Trời mới cứu được chúng ta khỏi tai họa. Đừng bao giờ lấy việc đi nhà thờ thường xuyên hay còn dâng hiến trung tín làm đủ.  Người tin thờ Chúa thật cần phải “sửa đổi lối sống và việc làm của mình”, tức là “thật lòng đối xử với nhau cách công bình, … không hiếp đáp ngoại kiều, cô nhi và quả phụ, … không làm đổ máu vô tội, … không đi theo các thần khác để tự chuốc họa vào thân” (7: 4-6)
Hãy xem lại những gì Chúa đã làm cho Si-lô, nơi thờ phương Chúa đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên sau khi vào xứ hứa; Hãy xem lại thể nào Chúa đã để cho Hòm Giao Ước – biểu tượng về sự hiện diện của Ngài – bị quân Philitin tịch thu (I Samuen 4). Chúa sẵn sàng vứt bỏ đấy.
Ừ thì đó là nơi thánh, là vật thánh, là đối tượng được chọn của Chúa. Nhưng một khi nơi đó bị bôi bẩn, một khi nơi đó biến thành ‘ổ’, thành ‘động’ thì việc nó bị bỏ chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.
Tôi và anh chị em là những thánh đồ, tức là những người được Chúa chọn để thuộc riêng về Chúa; và hội thánh – một tập thể gồm những thánh đồ – hẳn nhiên cũng là thánh. Thế nhưng, nếu Đền Thờ được chọn này (tức thân thể của chúng ta hoặc hội thánh) không nên thánh, mà nên ‘ổ’, nên ‘động’ thì kết quả cuối cùng là thể nào chắc khỏi cần phải nhắc lại. Đúng không?
Đó là lý do có biết bao nhiêu hội thánh đã bị xóa sổ, bao nhiêu chức vụ thánh đã phăng teo, và biết bao anh tài một thời lẫy lừng trong hội thánh giờ đang … thẳng cẳng nơi nào.
Chúa có vứt bỏ thật sự đấy, Chúa có loại bỏ thẳng thừng đấy. Hỡi anh chị em, hãy tỉnh thức. Chớ dại dột nghe theo những lời khuyên dạy phỉnh dối của mấy thầy, mấy sư, mấy cha … biến chất (7: 4; 8: 8-9). Trong khi những tiên tri thật của Chúa luôn kêu gọi dân sự Chúa hãy xét mình, ăn năn, trở lại cùng Chúa để được thương xót, để được hưởng phước, thì mấy ông ‘sư’ này luôn rêu rao rằng, “không cần phải ăn năn; nỏ cần xưng tội”. Đấy, thời của Giê-rê-mi khác gì thời của ta ngày nay nhỉ.
Ông thật không nghe, lại đi nghe ông giả (mà hàng giả bao giờ cũng lắm) nên kết cuộc là cả làng phải chịu cảnh … vết chân trần sang I-rắc mần tù binh!
Liên quan đến ‘các cha, các anh’ … tự té, có thể có théc méc đại loại thế này:
“Đúng là cũng còn có nhiều chuyện lùm sùm, nhưng những người lãnh đạo này cũng còn được ơn lắm à. Họ cũng còn nói tiên tri, còn đuổi quỷ, cầu nguyện chữa bệnh, … cơ mà?”
Thì đây, mấy ông thầy, ông sư khi xưa cũng … làm ‘đầy đủ thủ tục’ như thế, trong khi tội lỗi tầy huầy đấy thôi (8: 8-12). Có ai biết họ là những người đã bị Chúa bỏ, đang chờ ngày ra pháp trường đâu.
“Vậy thì ‘ơn’ này, ‘ơn’ kia của mấy ổng ở đâu ra?” – Một khi mà Chúa đã loại bỏ rồi thì ‘ơn’ đó chắc chắn là không đến từ Chúa, chắc chắn không phải là ‘hàng chính chủ’. Thế thì, hoặc là ‘chạy’ theo thói quen, hoặc là … do ‘xã hội đen’ cung ứng, theo kiểu “vỏ Đức, ruột Tàu”! Và nguy hại là đại đa số những người này không hề biết rằng ‘tài khoản’ của họ đã bị … hacker kiểm soát.
Một khi lãnh đạo mà bị … lãnh đạn nơi ‘phần cứng’ như thế, thì dân tình bên dưới – nếu không còn ở trong mối quan hệ cá nhân gần gũi với Chúa – đúng là … giao trứng cho ác rồi.
Trong phần Kinh Thánh hôm nay, còn có một điểm vô cùng đặc biệt, mà mỗi một chúng ta rất cần phải nhớ. Đó là việc Chúa CẤM Giê-rê-mi cầu thay (7: 16-20).
Răng lọa rứa hè? - Ấy là khi đối tượng đã rơi vào tình trạng … ‘hết thuốc chữa’. Ấy là khi đối tượng không còn cải hóa được nữa. Trơ rồi, chai rồi. Đối tượng đang ‘chạy’ ở tốc độ mà không thể nào hãm phanh được, dù đã buông chân ga!
Đối với những thành phần này thì chỉ còn có một điều duy nhất đợi chờ: giờ thi hành án mà thôi!
Đấy, soi cho kỹ đi nha bà con. Đừng có mà đến lúc ấy rồi lầm bầm oán trách rằng thì là “sao Chúa không bảo con một tiếng” nha.


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

GIU-ĐA LÂM KHỔ HÌNH

Giê-rê-mi 1-6
Hôm nay chúng ta cùng nhau Bộ Hành vào sách Giê-rê-mi. Đây là cuốn sách giới thiệu đời sống và chức vụ của một trong những vị tiên tri vĩ đại của vương quốc Giu-đa phía Nam, một quốc gia vốn đã từng một thời oai hùng nhưng giờ đây đang trên bờ thảm họa.
Hơn 40 năm, tiên tri Giê-rê-mi rao giảng một sứ điệp không được ai ưa thích: “Ăn Năn Hay Là Chết!” Sứ điệp của ông không được những người đồng tộc cứng đầu của ông lưu tâm đến. Không những thế, họ còn tìm mọi cách để khiến ông … ‘tắt đài’ một lần và vĩnh viễn.
Bị chống đối, bị thù ghét và bị cầm tù, nhưng vị tiên tri đầy lòng thương cảm này vẫn cứ sống sờ sờ để chứng kiến những lời tiên tri của mình được ứng nghiệm: khi quân Babilon tàn ác từ phương Bắc tràn vào xứ sở, hốt sạch sành sanh đem tuốt qua I-rắc lưu đày.
Đức Chúa Trời đã vô cùng kiên nhẫn khi gởi hết lời cảnh báo này đến lời cảnh báo khác qua những vị ngôn sứ của Ngài trong nỗ lực đem Giu-đa ra khỏi con đường hư bại. Giờ đây, trong thời khắc cuối cùng, Chúa ra tối hậu thư qua một con người gan lì nhưng có tấm lòng đầy trắc ẩn: Giê-rê-mi.
Vị tiên tri người làng A-na-tốt này vừa tuôn tràn nước mắt, vừa loan báo chính xác những gì mà người ta cần nghe: Chúa chịu hết nỗi tội lỗi của dân này rồi! Họa diệt vong đã sờ sờ ngay trước mắt rồi kìa. Quân xâm lược tàn ác Babilon – “công cụ thi hành án” của Chúa – đã được lịnh xuất binh!
Làm việc với con người là hơi bị … không ít khó khăn. Chúng ta cần phải chịu đựng cách … vô bờ bến, sáng suốt cách … vô tận, kiên định cách … vô tiền khoáng hậu và cần phải có một số lượng khủng về kinh nghiệm!
Đức Chúa Trời có thể chọn cách khác để thực thi công việc của Ngài, nhưng Chúa lại không làm như thế. Ngài chọn cách: sử dụng con người. Những con người như Môi-se, như Ê-sai, như Giê-rê-mi và như … chính bạn!
Chúa bảo Môi-se hãy bước vào trong cung điện Pharaon cách hiên ngang và tuyên bố: “Hãy để cho dân ta đi!”; Chúa yêu cầu Ê-sai tình nguyện thi hành sứ mạng quan trọng; Chúa sai Giê-rê-mi nói tiên tri cho một dân tộc phản nghịch. Môi-se trả lời: “Con không thể”, Ê-sai thì: “Xong đời con rồi!”, còn Giê-rê-mi là “Con không dám”.
Vâng, chính Chúa đã ‘đo ni đóng giày’ nhằm trang bị và khích lệ cho mỗi một sứ giả để họ có thể phân phát được sứ điệp của Ngài đến tận … tai những người thuộc diện cần phải … được nghe.
Khi đọc xong phần Kinh Thánh hôm nay, hãy hỏi chính mình rằng đâu là thông điệp mà Chúa muốn bạn thực hiện cho Ngài ngày hôm nay? Và rồi bạn đáp ứng ra sao trước sự ủy thác này: bạn đã trả lời là “con không thể”, … “con không dám” … hay dõng dạc “Yes, Sir!”
Giê-rê-mi được kêu gọi làm tiên tri không chỉ ở tầm quốc gia mà là ở tầm quốc tế khi khoảng chừng 20 tuổi! Do đó, anh í sợ khi được kêu gọi thì cũng là điều tự nhiên thôi. Thế nhưng, Chúa tỏ cho ‘ông trẻ’ này biết rằng, anh í được chọn từ lúc … chưa có anh í cơ.
Điều đó có nghĩa là tuổi tác, học thức, kinh nghiệm, ngoại hình, thành phần lí lịch chẳng liên quan gì đến sự chọn lựa của Chúa cả. Bạn thân mến, vì cớ Chúa chọn Giê-rê-mi, cũng như bạn và tôi, trước khi sáng tạo nên vũ trụ này, tức là trước khi có quá khứ của chúng ta. Thế cho nên, quá khứ của bạn – dù huy hoàng hay điêu tàn – thì cũng chẳng dính dáng gì đến sự chọn lựa của Chúa dành cho bạn cả. Yên tâm đi nhé.
Một điểm đặc biệt trong chức vụ tiên tri của Giê-rê-mi là cách Chúa phán với ông. Chúa thường phán với ông hay ban sứ điệp cho ông bằng sự hiện thấy. Có thể nói thế này, Giê-rê-mi ‘thấy’ sứ điệp từ Chúa nhiều hơn là ‘nghe’ như các vị tiên tri khác.
Có những sự hiện thấy (hình ảnh, cảnh trí) ông hiểu ngay, nhưng có không ít sự hiện thấy ông không hiểu. Cảnh nào không hiểu thì ngay sau đó, Chúa giải thích liền (1: 11-12; 13-16). Nhiều ân tứ Thánh Linh (như ân tứ lời tri thức, lời khôn ngoan, phân biệt các linh, … ) ngày hôm nay được vận hành cùng một cách giống như thế. Do đó, nếu anh chị em có được sự hiện thấy hay giấc mơ, hãy cầu xin sự thông giải từ Chúa rồi hãy ‘phán’ nhé.
Phần lớn những sự hiện thấy của Giê-rê-mi là sự phán xét hầu đến trên toàn cõi Giu-đa bởi tay quân Babilon độc ác. Trong linh, ông đã nhìn thấy dân tộc mình, đất nước mình bị quân phương Bắc tàn diệt là thế nào. Thế nhưng, khi ông loan báo cho người dân của mình về tai họa diệt vong hầu đến, rồi khẩn thiết kêu gọi họ hạ lòng ăn năn, trở lại cùng Chúa để được tai qua nạn khỏi thì họ chối từ.
Hãy tưởng tượng xem điều này, nếu bạn biết trước rõ mười mươi rằng tai nạn chết người đang chờ đợi người thân yêu nhất của mình ngay trước cửa vào ngày mai. Bạn sẽ làm gì? Chắc chắn là bạn sẽ tìm đủ mọi cách để báo cho người ấy biết và tìm cách ngăn người ấy đừng tiến đến chỗ chết ấy. Đúng không?
Nhưng nếu người ấy vẫn không nghe lời bạn, cứ lao ra khỏi cửa, tiến về chỗ ấy rồi chết thì bạn sẽ thế nào? – Vừa giận, vừa thương, vừa đau. Đúng không? Đau vì bất lực không làm sao ngăn cản được người thân của mình đi vào chỗ chết.
Đó cũng chính là tâm trạng của Giê-rê-mi đang khi thi hành chức vụ. Đó chính là lý do mà xen lẫn trong những sứ điệp tiên tri, những lời tuyên án là những lời đau đớn khóc thương của ông cho chính dân tộc của mình (4: 10, 19-20; 6: 24).
Trong 6 chương Kinh Thánh hôm nay, chúng ta cũng được gặp lại câu hỏi muôn thuở mà mỗi khi bị tai nạn thì người ta, mà nhất là con dân Chúa, từ xưa đến nay thường hay hỏi: “Tại sao Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta lại giáng mọi điều nầy trên chúng ta?” thì đây, câu trả lời của Chúa luôn là: Vì “các ngươi đã lìa bỏ Ta và phục vụ các thần ngoại ngay trong đất mình” (5: 19).
Hẵn nhiên, dân Chúa ngày xưa còn phạm nhiều tội khác như đạo đức suy đồi, tình dục buông thả, dâm loạn khắp nơi (5: 7-8), bất công xã hội (5: 28), giới lãnh đạo thuộc linh suy thoái (5: 31). Thế nhưng, đỉnh của đỉnh tội là thờ lạy hình tượng, mà trong các sách tiên tri luôn dùng một từ rất chi là sexy: tà dâm hay hành dâm!
Chính vì việc thờ lạy hình tượng được kể là tà dâm về phương diện thuộc linh, nên những người thờ lạy hình tượng (dù là nam hay nữ) luôn được mô tả như là những gái mãi dâm. Chính vì phạm vào tội trọng này mà không chịu ăn năn, từ bỏ nên hết Y-sơ-ra-ên phía Bắc, rồi đến Giu-đa phía Nam lần lượt từng ‘em’ một đi vào chỗ diệt vong.
Hãy nhìn vào ‘vết xe đổ’ của người xưa mà soi chiếu vào chính đời sống của mình, của gia đình mình và của hội thánh nơi mình đang sinh hoạt. Bạn có nhận được gì  cho chính mình từ nơi sứ điệp của Giê-rê-mi dành cho dân Giu-đa xưa, được ghi lại trong 6 chương Kinh Thánh mà chúng ta đọc hôm nay không?

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Ê-SAI GỌI, CHÚA TRẢ LỜI

Esai 63-66
Hôm nay, ngày cuối cùng của tháng 7, cũng là ngày kết thúc sách Ê-sai. Ê-sai khép lại sứ điệp tiên tri ‘hoành tráng’ của mình bằng một lời cầu thay vô cùng khuấy động cho nhà Y-sơ-ra-ên nói chung. Trong khi nhận biết sự ngang bướng và liên tục phản loạn của những đồng hương mình, Ê-sai vẫn tiếp tục công bố những lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho họ. Đó là những lời hứa về việc cứu chuộc và tái tạo họ vì cớ vinh quang của CHÚA.
Sự phản hồi của Đức Chúa Trời gồm cả nặng lẫn nhẹ, cả nghiêm khắc lẫn thương yêu, cả hình phạt lẫn an ủi.
Phường nghịch tử sẽ bị hình phạt vì cớ bỏ ngoài tai những lời mời gọi thường xuyên của Đức Chúa Trời. Và bởi những hình phạt khá ‘rát’ này mà những tội thờ hình tượng, tham lam, phản loạn và không vâng phục sẽ được bứng tận gốc khỏi dân sự Chúa.
Trong khi đó, vinh hiển và hạnh phước dư dật sẽ được ban thưởng cho những người trung tín của Chúa. Đó là trời mới, đất mới; là không còn khóc lóc đắng cay; là không còn cảnh chết bệnh, chết trẻ; không còn người nghèo đói hay bị hoạn nạn tai ương nữa.
Ê-sai kết thúc bằng việc ‘túm lại’ những chủ đề chính trong tác phẩm của mình: (a) Đức Chúa Trời đề cao những người khiêm nhường và biết hối lỗi, (b) Đấng Mê-sia hay Chúa Cứu Thế sẽ đến để ‘xử đẹp’ mọi kẻ thù nghịch với Ngài, và (c) mọi dân tộc sẽ được nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời và mọi xác thịt sẽ có một ngày cùng thờ phượng CHÚA.
Sách Ê-sai là một sự nhắc nhở nghiêm khắc cho người đọc trong mọi thời đại mà đặc biệt là cho những người tin thờ Chúa về hậu quả vô cùng đau đớn của việc:
§  Phớt lờ những lời hứa của Đức Chúa Trời (và do đó dẫn đến việc MẤT phước)
§  Phớt lờ những lời cảnh báo của Đức Chúa Trời (và do đó dẫn đến việc phải CHỊU phạt)
§  Phớt lờ những lời mời gọi của Đức Chúa Trời (và do đó dẫn đến việc THIẾU mất niềm vui trong mối quan hệ gia đình riêng tư với chính Ngài)
Sách tiên tri Ê-sai là một sách khá dài. Vì dài nên mới được liệt vào nhóm Đại Tiên Tri, tức tiên tri lớn đấy. (Chớ không phải đại tiên tri là vì cụ Ê-sai to con hơn hay vì chức vụ của cụ cao hơn, ‘hoành tráng’ hơn, bề thế hơn mấy cụ khác đâu nha). Sách tiên tri Ê-sai có … nhiều chương hơn tất cả các sách tiên tri khác trong kinh Cựu Ước. Thế nhưng, sứ điệp của nó thì lại vô cùng ngắn gọn và hết sức … ‘bình dân học vụ’: Hình phạt luôn dành cho những kẻ khinh lờn lời phán dạy của Chúa, còn sự an ủi luôn dành cho những ai vâng giữ. Rứa thôi.
Cũng cần phải mở ngoặc thêm một tí về 4 chương Kinh Thánh hôm nay. Trước hết, đó là cách sử dụng thì của Ê-sai: lúc ở thì hiện tại, lúc phi sang thì tương lai. Cứ ‘chơi’ cái món nộm (gỏi) vừa xa, vừa gần trong cùng một cảnh kiểu ni thì đảm bảo là … hoa cả mắt ngay, nếu không tỉnh táo đủ. He he.
Chẳng hạn, trong chương 63 từ câu 1-6, ‘cụ’ (Ê-sai) đang ‘hỏi gì-đáp nấy’ với Chúa về ‘cú’ phán xét kinh thiên động địa dành cho muôn dân lúc bấy giờ, và được khởi đầu từ dân Ê-đôm. Đây là cơn phán xét sẽ xảy ra sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ, tức là nhiều năm sau khi Ê-sai nói ra những lời này.
Thế rồi, đột ngột sang 63: 7 (cho đến hết chương 64, tức 64: 12), Ê-sai hay đúng hơn là một người đại diện nào đó của dân Giu-đa còn sót lại từ chốn lưu đày – là chuyện sẽ xảy ra … ‘tút mú cà tha’, xa lắc xa lơ về sau này nữa – liền cất tiếng cầu xin Chúa đem dân sót của Chúa hồi hương!
Hãy để ý 63: 7 nha. Vào lúc ấy trong tương lai (so với lúc Ê-sai đang nói tiên tri, chớ còn với ta ngày nay thì chuyện đó đã xảy ra từ đời tám hoánh rồi, là dĩ dzãng rồi), khi đang bị lưu đày nhục thôi rồi, tận bên I-rắc, mà bác í vẫn có thể ca ngợi Chúa đấy thôi. Ê-sai thấy trước là sẽ có một người cầu nguyện như thế, như thế. Bắt đầu là ca ngợi Chúa như thế, ăn năn như thế, kêu xin như thế, … rồi ông nói ra như thế.
Thế nhưng, chương 65 mới thật sự là đỉnh của … trộn! Mới đọc lướt qua câu 1, ta rất dễ nhầm tưởng là Chúa trả lời tắp lự lời cầu xin của anh nào đấy ở chương 63-64 trước đó. Song le, nào có phải vậy đâu. Ấy là Chúa ‘đáp xoáy’ đấy. Chúa đang so sánh tình trạng trớ trêu, ‘đau hơn … bò đá’ giữa dân ngoại và dân của Chúa đang trong thì hiện tại, tức là thời điểm mà Ê-sai nói tiên tri. Đọc kỹ từ câu 2-7 của chương 65, ta sẽ nhận ra được điều đó. Đó là lúc mà “sự báo trả đích đáng” của Chúa, tức là hủy diệt Giê-ru-sa-lem và dân Giu-đa bị bắt đi lưu đày chưa xảy ra.
Phần tiếp theo bên dưới từ câu 8-25 là một món trộn kiểu khác, được mang tên là Tương Lai. Ấy là vì nó bao gồm những gì sẽ xảy ra cả trong tương lai gần (khi dân Giu-đa bị lưu đày, khi họ được hồi hương), lẫn tương lai xa … vừa vừa (khi Đấng Mê-sia hay Chúa Cứu Thế, tức Chúa Giê-xu xuất hiện – 65:9), và xa … mút chỉ cà tha, cả đến tận hôm nay vẫn chưa … xảy ra (65: 17-25).
Từ câu 11-15 cũng hé lộ cho chúng ta thấy là có hai loại đầy tớ Chúa, tức những người hầu việc Chúa đấy nhá. Tuy mang danh là người hầu việc Chúa nhưng cũng có loại người “đã từ bỏ Chúa, quên Đền Thờ Ngài, thờ thần 'Vận May' và thần 'Số Mệnh'” đó nha anh chị em (c. 11). Bảo trọng. Bảo trọng.
Sách Ê-sai tạm khép lại hôm nay, với một câu hỏi thật lòng: bạn có nghe được Chúa nói điều gì với riêng cá nhân mình qua sách tiên tri này không? Nếu có, thì bạn đã đáp ứng lại với điều đó như thế nào?
Còn nếu không, thì bạn ơi ‘chức năng nhận cuộc gọi’ của bạn có lẽ đã gặp gấn đề rồi đấy. Kiểm tra lại ngay đi nhé.


Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

TRỌN SỰ PHÁN XÉT

Esai 58-62
Phần ‘túm lược’ của 5 chương Kinh Thánh hôm nay là ri nè:
Sự an ủi sẽ đến trong hình thức của một người giải cứu (vua Siru, các chương 40-48); Sự an ủi sẽ đến trong hình thức của một Đầy Tớ Chịu Khổ (Đấng Cứu Thế, các chương 49-57); và cuối cùng, sự an ủi sẽ đến trong hình thức của một dân tộc được giải cứu (dân Giu-đa, các chương 58-66).
Vâng giữ những mạng lệnh của Chúa luôn là con đường dẫn đến phước hạnh cho một cá nhân, cũng như cho một cộng đồng. Và chắc chắn, dân sự Chúa sẽ có một tương lai xán lạn!
Một khi mà Sự Sáng của Giê-ru-sa-lem, tức là Đấng Mê-sia hay Chúa Cứu Thế hiện đến thì sự công chính và sự cứu rỗi sẽ tỏa lan đến mọi dân, mọi nước (60: 1; 62; 1), và khi ấy, Giê-ru-sa-lem sẽ là “sự ca ngợi trong khắp đất” (62: 7)
Trong phần Kinh Thánh hôm nay, chúng ta sẽ dành trọn thời lượng cho 2 ‘anh’ chót bảng U 50 là 58 và 59. Vâng, chúng ta sẽ ‘bình’ về phước hạnh của sự thờ phượng thật và hẳn nhiên, không cần bình ly gì ráo trọi thì ta cũng sẽ thấy được những bất hạnh của sự thờ phượng không thật của dân sự Chúa. Nhớ là của dân sự Chúa – tức là chúng ta, chớ hổng phải người ngoại đâu à nha.
Đầu tiên, dân Chúa rất chi là ấm ức: “Răng chúng con kiêng ăn cầu nguyện mà Chúa nỏ trả lời?” (58: 3). Câu này nghe quen quen, đúng không? Nào, cận cảnh thêm chút xíu để thấy rõ chân dung của dân Chúa ngày xưa có giống ‘phe ta’ ngày nay không nhé:
“CHÚA ơi, dzậy là bất công rồi đó nha. Chúng con kiêng ăn đến như thế mà Chúa vẫn không đáp lời cầu xin của chúng con. Chả nhẽ, Chúa không biết là chúng con tìm kiếm Chúa mỗi ngày à? Chúa không biết là hàng ngày chúng con muốn tìm biết đường lối Chúa; chúng con làm sự công bình và khao khát được đến gần Chúa sao? Thế mà Chúa vẫn không thèm trả lời chúng con. Tại sao, tại sao, tại sao cơ chứ?”
Này, mấy anh mấy chị và luôn cả mấy … sư mà từ lúc tin thờ Chúa đến giờ chưa từng biết kiêng ăn cầu nguyện là gì thì đừng có vội hí ha hí hửng rằng thì là ngày nay người tin Chúa nỏ cần kiêng ăn đâu đó nhá. Chúa không cấm mà cũng không trách dân sự Ngài kiêng ăn cầu nguyện (vì kiêng ăn cầu nguyện là một phần trong nếp sống đạo của Cơ-đốc nhân – Mathiơ 6: 16-18; 9: 14-15), nhưng điều Chúa quở trách dân Giu-đa xưa là họ chỉ kiêng ăn theo kiểu giữ lễ, tức là giữ hình thức, thủ tục bề ngoài chớ không còn giữ tinh thần kiêng ăn thật.
Nếu chỉ chiếu theo bề ngoài mà xét thì việc kiêng ăn cầu nguyện của dân sự Chúa thời Ê-sai có thể đã đạt đến … 9 nút chớ chẳng chơi (53: 5). Thế nhưng bề trong thì … còn ‘tầy huầy’ hà. Họ không có một tấm lòng ăn năn chân thành để được thanh tẩy từ bên trong.
Giống như phần nhiều người tin Chúa ngày nay, dân Giu-đa xưa đã nhầm tưởng rằng kiêng ăn cầu nguyện của họ sẽ thay đổi được Đức Chúa Trời. Không anh chị em ơi, kiêng ăn cầu nguyện không bao giờ có thể thay đổi Chúa. Kiêng ăn cầu nguyện chỉ có thể thay đổi chính chúng ta mà thôi. Tăng tăng tăng tằng!
Chính vì ‘bé cái nhầm’ như thế nên nhiều người ngày nay cứ đụng chuyện là dùng sự kiêng ăn cứ như là ‘sẵn sàng ăn thua đủ’ với Chúa không bằng. Số khác thì cứ tưởng là ta ‘hành hạ’ xác thân mình thì Chúa sẽ mủi lòng thương xót thôi.
Bậy! Kiêng ăn cái kiểu đó hả, lời cầu nguyện không đụng đến được trần nhà chớ mong gì “thấu đến nơi cao”.
Trong chương 58 này, Chúa phơi bày hai điều chỉ còn hình thức trống rỗng trong nếp sống đạo của dân Chúa thời Ê-sai. Đó là kiêng ăn và giữ ngày Sa-bát.
Cả hai đều tóm lại trong một chữ … xít-tốp (stop): NGHỈ ăn và NGHỈ làm. Họ giữ đúng y bon như thế, nhưng Chúa lại không … ô-kê. Răng rứa?
Ấy là họ kiêng ăn nhưng để cầu xin: “Chúa ơi, giúp con thắng vụ này đi”, hay “Chúa ơi, khiến cho tụi nó lụn bại luôn đi”, … (58: 4). Ấy là vì họ tuy có nghỉ ngày Sa-bát nhưng không phải để thờ phượng Chúa mà là để đi chơi dzí ghệ, để gầy sòng, để … nhậu tới bến hay nói cách rất chi nhẹ nhàng như Chúa là “đi đường riêng, … làm theo ý riêng, … nói những lời vô bổ”.
Vì lối sống của con dân Chúa chỉ còn cái vỏ đạo đức, tin kính bề ngoài nên lời cầu nguyện của họ thường là … một đi không trở lại, dù có được ‘đính kèm’ với mấy đợt kiêng ăn! Rồi “theo năm tháng hoài mong, thư gửi đi mấy lần, đợi hồi âm chưa thấy”, quân ta đâm ra nghi ngờ, trước hết là khả năng ‘xử lý sự vụ’ của Chúa và sau đó là sự hiện hữu của Ngài. Ta có thể nghi ngờ tất tần tật, ngoại trừ … tội lỗi của chính ta!
Bao giờ cũng vậy khi gặp nan đề, rắc rối, hoạn nạn, thật là dễ dàng cho chúng ta để đổ lỗi cho đời, cho Trời, cho người hay cho hoàn cảnh xung quanh, ngoại trừ … chính mình! Chúng ta luôn tìm thấy được một ai đó hay một điều gì đấy làm nguyên nhân cho việc … “sao không thấy hồi âm”.
Thế nhưng, hãy nghe Chúa giải thích nè cưng:
“Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu. Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.” (59 : 1-2)
Anh chị em ơi, mỗi khi đối diện với nan đề, thử thách, khoan vội hỏi “tại sao” hay “Chúa ở đâu”, mà hãy tự hỏi: Chúa thật sự có chỗ trong đời sống của mình không? Và Ngài có thật sự được bạn nhìn nhận là Chúa, tức là ông Chủ hay chưa nhé.
Nghe này: tội lỗi không phân cách bạn khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời đâu, vì Ngài cùng một lúc có thể có mặt ở khắp mọi nơi (Thi 139: 7); tội lỗi cũng không phân rẽ bạn khỏi tình yêu của Đức Chúa Trời đâu, vì Ngài là Đấng yêu tội nhân (Roma 5: 8). Thế nhưng, tội lỗi sẽ phân cách chúng ta (1) khỏi mối thông công với Chúa, (2) khỏi phước hạnh của Chúa, (3) khỏi một số phúc lợi của tình yêu Thiên Chúa như trường hợp người con trai hoang đàng trong Luca 15: 11-32, và (4) khỏi sự bảo vệ của chính Ngài.
Hy vọng là đến đây mỗi một người trong chúng ta đã có thể ít nhiều nhận dạng được chân dung thật của chính mình, của gia đình mình, của hội thánh nơi mình đang sinh hoạt rồi đấy. Phần còn lại thì tùy vào hành động của TỪNG NGƯỜI sẽ quyết định kết cuộc là: phước hạnh hay bất hạnh dành cho NGƯỜI ĐÓ mà thôi.
Nhớ là không ai làm thay bạn “phần còn lại” này được đâu đó nha.